|
Cà Mau là vùng đất hội tụ của những
sông ngòi, kinh rạch chằng chịt nên phương tiện đi lại chủ yếu của người dân là
các loại xuồng ghe. Hình ảnh những chiếc xuồng ba lá, những chiếc ghe câu lênh
đênh trên sông rạch, những chiếc ghe thương hồ chở đầy hàng hóa nông sản và
những khu chợ nổi tấp nập xuồng ghe ở các thị tứ trên sông trở thành nét đẹp
văn hóa độc đáo mà ít nơi nào có được.
Chiếc xuồng là phương tiện giao
thông, cũng là tài sản quý giá của người nông thôn Cà Mau. Khi đường bộ chưa
phát triển, di chuyển từ nhà này qua nhà khác, từ xóm này sang xóm khác, đi
thăm viếng, dự đám tiệc, ốm đau bệnh tật, vận chuyển lúa gạo, mua bán hàng hóa,
đánh bắt thủy sản…, tất tần tật mọi việc người dân đều "một bước xuống
xuồng".
 | Chợ nổi Cà Mau vẫn còn giữ được nét nguyên sơ
và ghe, xuồng là phương tiện chủ yếu.
Ảnh: TRẦM NGHĨ | Nghề đóng ghe, xuồng là một trong
những nghề xuất hiện sớm ở Cà Mau và không ngừng phát triển để tạo nên những
sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đi lại của cư dân vùng sông nước. Theo tài liệu
sưu khảo của tác giả Huỳnh Minh, khoảng năm 1968, ở Cà Mau có trên 30 trại đóng
xuồng ba lá. Sách "Minh Hải địa chí" (1985) của Trần Thanh Phương thì
mô tả "Đi trên sông rạch ở Minh Hải (nay là Cà Mau và Bạc Liêu), nhất
là những vàm sông lớn, ngã ba sông hoặc những thị trấn bên sông, người ta dễ
dàng nhận ra những "trại xuồng". Ở đó có nhiều người thợ lành nghề
đóng xuồng ghe. Đây cũng là một nghề "cha truyền con nối". Nhiều
người thợ 70-80 tuổi vẫn còn cầm cưa, cầm đục hướng dẫn cho con cháu…".
Theo nhiều tài liệu khảo cứu cho
thấy, nghề đóng ghe xuồng ở Cà Mau được phát triển từ các tỉnh miền Trung và
miền Đông Nam Bộ. Những người thợ lành nghề đã vì cuộc mưu sinh mà di chuyển
dần xuống phía Nam lập nên những "trại xuồng", rồi theo thời gian, họ
sáng tạo nên nhiều loại xuồng ghe phù hợp với điều kiện đi lại trên sông rạch ở
Cà Mau.
Theo tác giả Huỳnh Minh thì "Từ
cuối thế kỷ 18, ở Đồng Nai đã có nghề đóng và sửa chữa tàu thuyền. Do thuyền
của người Trung Hoa đến buôn bán ngày càng nhiều, thuyền bị hư, bị rò rỉ phải
sửa chữa, cộng với nhu cầu vận chuyển đường thủy ngày càng lớn trên vùng đất
này mà nghề ra đời. Thợ đóng thuyền có tay nghề cao dần dần lan rộng khắp miền
lục tỉnh". Tuy nhiên, nguồn gốc xa xưa của nghề đóng ghe xuồng có lẽ
là việc làm ra thuyền độc mộc của người Việt cổ, mà ngày nay những dấu tích này
còn được lưu lại là hình ảnh các loại thuyền được vẽ cách điệu trên bề mặt của
trống đồng Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ.
Ghe xuồng ở Cà Mau có rất nhiều
chủng loại, từ loại nhỏ dùng để đi trong các sông rạch như: xuồng ba lá, ghe
tam bản, ghe bầu, ghe chài, ghe lườn, ghe cà vom, ghe rỗi… đến các loại lớn
như: tàu trọng tải, tàu khách, tàu đánh cá… Trong đó, xuồng ba lá được sử dụng
phổ biến ở Cà Mau vì đặc điểm lườn phẳng, có lợi thế khi lướt trên sông rạch
rộng, thông thoáng.
Gọi là xuồng ba lá do có 3 tấm gỗ
ghép lại (giống như 3 chiếc lá), một tấm đặt ở giữa làm lườn và hai tấm ở hai
bên làm be xuồng, ba tấm ván được giữ cố định bằng những "cong xuồng"
làm từ những thanh gỗ chắc chắn. Phía trên có sạp xuồng được đóng bằng ván để
ngồi, ở hai đầu có sạp mũi và sạp lái, sạp lái dài hơn sạp mũi và thường được
đóng thêm bổ chèo. Bổ chèo được đóng ở hai bên be xuồng, mỗi bên gồm 2 mảnh gỗ
đặt nằm dọc theo be, có khoét lỗ thông nhau dùng để cắm cột chèo vào giữ cho
cây chèo thăng bằng trong lúc chèo xuồng.
Xuồng ba lá có nhiều loại, loại nhỏ
nhất là be bảy, lớn hơn là be tám, be chín, be mười. Đối với xuồng be mười có
thể chở khoảng 15 giạ lúa (tương đương với 300 kg), nếu muốn tăng sức chở,
người ta đóng thêm một tấm ván nữa cho lớn hơn, gọi là xuồng be mười kèm. Trong
quá trình sử dụng, người ta cải tiến thêm các loại xuồng có 5, 7 hoặc 9 tấm ván
để thuận lợi khi di chuyển trong các địa hình sông rạch, tuy nhiên, vẫn giữ
nguyên hình dạng đặc trưng của loại xuồng ba lá.
Đối với xuồng ba lá có kết cấu đơn
giản gồm có: giàn đà, cong và ván be thì đóng nhanh hơn các loại khác. Sau khi
đã lựa chọn gỗ, ván, mỗi ngày một thợ có thể làm từ 2-3 chiếc xuồng ba lá loại
thường. Gỗ dùng để đóng xuồng ba lá cũng dễ lựa chọn, từ các loại gỗ quý trên
rừng miền Đông Nam Bộ đến các loại cây gỗ tạp có tại địa phương. Tất nhiên,
tuổi thọ của những chiếc xuồng phụ thuộc vào chất lượng của từng loại gỗ.
Về kỹ thuật, nghề đóng ghe xuồng
"cũng lắm công phu". Mỗi người thợ, mỗi trại đóng ghe, xuồng đều có
những kinh nghiệm gia truyền, đối với từng loại ghe, xuồng đều có những thông
số kỹ thuật, những bài bản mà chỉ có người trong nghề mới am tường, có thể gọi
là bí quyết nghề nghiệp, hay là "mẹo". Dân gian có câu:
"Làm ruộng ăn theo mùa
Làm ghe ăn theo mẹo"
Sau khi đã chọn được loại gỗ vừa ý,
những người thợ bắt đầu cưa xẻ gỗ rồi tạo dáng từng bộ phận và lắp ráp chúng
lại với nhau theo từng công đoạn: gác tiếp, ghim lô, xây mê, lên giàn đà, làm
con lươn, vô be vành, đóng giàn cong, gác then, ấp khẩu, xây chậu mũi, xây chậu
lái, làm mũi, làm lái, làm mui, làm hầm, sau cùng làm xảm trét.
Xảm trét là
công đoạn sử dụng các loại chai, dầu hoặc nhựa cây để lấp các khoảng hở, dấu
đinh khi đóng thuyền, bảo đảm cho thuyền không bị thấm nước vào bên trong khi
sử dụng. Riêng công đoạn này cũng có bí quyết riêng. Sau khi các công đoạn kỹ
thuật được hoàn thành và qua quá trình kiểm tra lần cuối của người chủ trại,
những chiếc ghe, xuồng đã có thể sẵn sàng lênh đênh trên sông nước.
Ngày nay, từ việc đóng những chiếc
ghe, xuồng đơn giản đến quy trình đóng những loại tàu trọng tải lớn đều được hỗ
trợ bởi các loại máy móc và phương tiện kỹ thuật hiện đại, có quy trình sản
xuất và kiểm tra chất lượng theo các tiêu chuẩn phù hợp. Chất liệu cũng được
dần dần thay thế từ các loại gỗ sang sử dụng chất liệu composite để những chiếc
ghe, xuồng có thể nhẹ nhàng lướt trên sông rạch với tốc độ nhanh hơn, kiểu dáng
cũng đẹp mắt hơn.
Mặc dù vậy, nghề đóng ghe, xuồng truyền thống đã tồn tại qua
bao thế hệ người dân đồng bằng nói chung, ở Cà Mau nói riêng cần được nghiên
cứu và bảo tồn đúng mức để giữ gìn như một giá trị văn hóa đặc trưng của cư dân
miền sông nước./.
Huỳnh
Thăng
|