Thứ tư, ngày 22/05/2013
  Liên hệ Sơ đổ Giới thiệu
KHOA HỌC ĐỜI SỐNG
Dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai
Cập nhật ngày: 30/06/2012 08:13:37

Dinh dưỡng cho phụ nữ trong thời gian mang thai có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì nó ảnh hưởng rất lớn đến tương lai đứa trẻ sau này. Do đó, trong thời gian mang thai, người phụ nữ phải biết dinh dưỡng hợp lý để cho đứa con trong bụng phát triển đầy đủ thể chất lẫn tinh thần khi ra đời. Để thực hiện được vấn đề đó, chúng ta cần quan tâm một số vấn đề sau:

1. Sự thay đổi trọng lượng cơ thể bà mẹ khi mang thai

- 3 tháng đầu, mẹ tăng cân 1.000 g, bào thai tăng 100 g

- 3 tháng giữa, mẹ tăng cân 4.000-5.000 g, bào thai tăng 1.000 g

- 3 tháng cuối, mẹ tăng cân 5.000-6.000 g, bào thai tăng 2.000 g

 
 Dinh dưỡng khi mang thai rất cần thiết cho phụ nữ.       Ảnh: LÊ HIẾU st
Tùy theo tình trạng dinh dưỡng (chỉ số khối cơ thể: BMI) trước khi có thai để khuyến nghị mức tăng cân như sau: (BMI = trọng lượng cơ thể (kg) chia cho chiều cao bình phương (m).

- Tình trạng dinh dưỡng gầy (BMI<18.5): mức tăng cân nên đạt 25% cân nặng trước khi có thai.

- Tình trạng dinh dưỡng tốt (BMI: 18.5-22.9): mức tăng cân nên đạt là 20% cân nặng trước khi có thai.

- Tình trạng dinh dưỡng thừa cân - béo phì (BMI>=23): mức tăng cân nên đạt 15% cân nặng trước khi có thai

2. Nhu cầu dinh dưỡng của phụ nữ khi mang thai và đang nuôi con bằng sữa mẹ

Nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng của thai phụ cao hơn khi chưa có thai.

- Nhu cầu của phụ nữ bình thường: Năng lượng từ 2.200-2.600 Kcal, Protein: 55 g, chất béo 60 g

- Năng lượng: 3 tháng giữa nên ăn nhiều hơn, sao cho cung cấp năng lượng tăng là 360 kcal/ngày (tương đương 1 chén cơm và thức ăn hợp lý), 3 tháng cuối nên tăng 475 kcal/ngày (tương đương 2 chén cơm và thức ăn hợp lý).

- Protein (đạm): Đặc biệt, 3 tháng đầu cần cho việc tạo hình và xây dựng các tổ chức nội tạng trong cơ thể như: tim, gan, phổi và nhất là tế bào thần kinh. Nhu cầu: tăng 15 g/ngày cho 6 tháng đầu và 18 g/ngày cho 3 tháng cuối.

- Chất béo: Chiếm 20-25% tổng số năng lượng, tức là khoảng 60 g chất béo/ngày (lấy từ nguồn dầu ăn và mỡ, bơ).

- Vitamin, chất khoáng và các yếu tố vi lượng: Phụ nữ có thai cần được bổ sung viên sắt folic trong suốt thai kỳ. Từ khi có thai, uống mỗi ngày một viên, uống cho đến sau sanh 6 tuần. Đối với những người thiếu máu, có thể tăng lên 2 viên/ngày. Đặc biệt, acide folic rất cần cho việc tạo ống thần kinh cho trẻ em.

Với phụ nữ nuôi con bú: Năng lượng cần tăng thêm từ 505-675 kcal/ngày, tùy thuộc vào trước đó họ có được ăn uống tốt hay không.

3. Cách ăn uống hợp lý của bà mẹ trong thời kỳ mang thai

Bữa ăn cần cung cấp đủ các chất dinh dưỡng qua việc ăn đủ 4 nhóm thực phẩm và ăn nhiều hơn so với khi không có thai. Trong đó:

- Cung cấp đủ năng lượng bằng gạo, mì, bắp, khoai và các chế phẩm của nó.

- Protein: Được cung cấp từ các thức ăn nguồn gốc động vật như: thịt, cá, trứng, sữa có nhiều chất đạm quý. Ngoài ra, nên ăn thêm các loại đậu đỗ, đậu phộng, mè để cung cấp thêm đạm và dầu từ thực vật

- Cung cấp vitamin và khoáng qua việc sử dụng các loại rau xanh và trái cây (rau muống, rau ngót, rau cải xoong, rau dền... Quả chín như: chuối, đu đủ, cam, xoài..). Nếu có điều kiện nên ăn quả chín hằng ngày...

- Lipid (chất béo): Được cung cấp từ dầu, mỡ, đậu phộng, mè…

4. Những đồ ăn thức uống nên hạn chế

- Không nên dùng các loại đồ uống kích thích như: rượu, cà phê, thuốc lá, nước chè đặc...

- Giảm ăn các loại gia vị như: ớt, hạt tiêu, tỏi…

- Giảm ăn mặn, nhất là những người mẹ bị phù, để giảm phù và tránh tai biến khi sinh.

5. Chăm sóc y tế

- Thăm khám thai: Đi khám thai ít nhất 5 lần trong suốt quá trình mang thai. Quý đầu 1 lần, nên siêu âm khi thai khoảng 6-12 tuần; 3 tháng giữa khám 1 lần, có điều kiện siêu âm lần 2 khi thai 20-24 tuần; 3 tháng cuối, mỗi tháng khám 1 lần, có điều kiện siêu âm lần 3 khi tuổi thai 30-32 tuần.

 - Sử dụng thuốc: Sử dụng viên sắt/acid folic phòng thiếu máu do thiếu sắt theo hướng dẫn của cán bộ y tế. Không uống bất kỳ loại thuốc nào khi chưa có ý kiến thầy thuốc.

- Vệ sinh thân thể: Việc vệ sinh vú, đặc biệt là núm vú là rất quan trọng nhằm bảo đảm sự thông tia sữa sau khi đẻ. Hằng ngày nên lau rửa nhẹ nhàng khi tắm. Tránh bơm rửa trong âm đạo. Quan hệ tình dục thận trọng. Tránh tiếp xúc với các chất độc hại.

* Lưu ý: Khi mang thai nên làm những công việc nhẹ nhàng, xen kẽ nghỉ ngơi hợp lý. Bảo đảm ngủ đủ 8 giờ/ngày, đặc biệt nên ngủ trưa.

6. Tiêm phòng uốn ván

- Với người chưa tiêm phòng uốn ván lần nào: Tiêm mũi đầu khi phát hiện thai nghén bất kỳ ở tháng nào, tiêm mũi thứ 2 sau mũi tiêm đầu ít nhất 1 tháng và phải cách thời gian dự kiến sinh ít nhất 1 tháng.

- Với những người đã tiêm đủ 2 mũi nếu:

+ Lần tiêm trước trước < 5 năm: tiêm 1 mũi.

+ Lần tiêm trước trước > 5 năm: tiêm 2 mũi.

- Với người đã tiêm 3 mũi hoặc 4 mũi, cần tiêm nhắc lại 1 mũi.

- Với người đã tiêm đủ 5 mũi phòng uốn ván theo đúng lịch, nếu mũi tiêm cuối cùng cách đã 10 năm trở lên thì nên tiêm thêm 1 mũi nhắc lại./.

Bác sĩ Trương Minh Kiển

CÁC TIN ĐÃ ĐƯA
• Dược tính của rau dấp cá - (22/06/2012)
• Chăm sóc da mụn trứng cá - (22/06/2012)
• Bữa ăn thế kỷ 21: Dinh dưỡng và hợp lý - (22/06/2012)
• Bệnh sởi - (15/06/2012)
• Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ - (15/06/2012)
• Sự nguy hiểm của sốt rét ác tính thể não - (11/06/2012)
• Chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng - (07/06/2012)
• Phòng ngừa hội chứng chuyển hóa - (02/06/2012)
• Trị mụn trứng cá - (02/06/2012)
• Chế biến thức ăn cho trẻ ăn dặm - (31/05/2012)


PHÓNG SỰ ẢNH
Bạn bị ảnh hưởng gì khi giá tiêu dùng tăng cao?



  Xem kết quả...