|
Tôi biết cách mạng từ khá sớm vì từ
năm 1940 ba tôi đã cùng hoạt động Cách mạng với chú Nguyễn Văn Lọng (Tư Chùa,
Tư Ho…) ở vùng Cà Mau. Cho nên những ngày đầu tháng 8/1945 sau khi học xong lớp
cán bộ Việt Minh do chú Chín Ngự, Quận bộ Việt Minh Cà Mau phụ trách, tôi về
làm Đoàn phó Đoàn Thanh niên cứu quốc, phụ trách thiếu nhi xã Khánh Lâm, quận
Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu.
Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp
(1945-1954), phần lớn thời gian đó tôi đều công tác ở nhiều cơ quan Đảng khác
nhau như Văn phòng Chi ủy xã, Văn phòng Liên tỉnh ủy Hậu Giang, Văn phòng Khu
ủy Khu 9, Văn phòng Xứ ủy Nam Bộ, Văn phòng Trung ương Cục miền Nam - Ủy ban
Kháng chiến - Hành chánh Nam Bộ.
Nay tôi đã hơn 80 tuổi đời và trên
60 năm tuổi Đảng, nhìn lại, tôi mới ngộ ra rằng: Chính thời gian công tác đầu
đời, trong môi trường trong sạch, bạn bè tốt, lãnh đạo gương mẫu… ở nhiều cơ
quan Đảng đã tạo cho tôi một cái nền vững chắc về lý tưởng, về nhận thức tư
tưởng, về đạo đức và nhân phẩm của con người… giúp tôi trưởng thành vững vàng
đi theo con đường cách mạng đến cuối cuộc đời. Với chặng đường đã qua, tôi thấy
không có điều gì phải ân hận với đất nước, với Đảng, với dân, với bạn bè đồng
chí, với vợ con và thân tộc.
Trong cuộc đời, nhất là thời kỳ công
tác tại Văn phòng Xứ ủy Nam bộ rồi Trung ương Cục miền Nam có không ít những kỷ
niệm vui buồn đáng nhớ, trong đó có những kỷ niệm tôi không thể nào quên vì nó
như một bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Đó là từ người lính
Văn phòng Khu ủy Khu 9 thành người lính Văn phòng Xứ ủy Nam Bộ và đó là từ việc
ở lại miền Nam sau 1954 thành phải tập kết ra Bắc.
Kỷ niệm thứ nhất: Từ người lính Văn
phòng Khu ủy Khu 9 thành người lính Văn phòng Xứ ủy Nam bộ:
Năm 1950, Xứ ủy Nam Bộ và các cơ
quan trực thuộc chuyển về miền Tây (chủ yếu là tỉnh Bạc Liêu - Cà Mau) để lập
căn cứ kháng chiến lâu dài chống giặc Pháp ở Nam bộ. Để hợp lý hóa về tổ chức,
Trung ương quyết định giải thể Khu ủy Khu 9 để Xứ ủy trực tiếp chỉ đạo Khu 9 và
thành lập 2 Phân liên khu miền Đông và miền Tây Nam Bộ.
Khi giải thể Khu ủy Khu 9, một số
cán bộ lãnh đạo Khu ủy được phân công về một số Ban trực thuộc Xứ ủy như Ban Tổ
chức, Ban Kiểm tra, Ban Dân vận… Anh em Văn phòng gần 10 người thì về Văn phòng
Xứ ủy, trong đó có tôi, lúc bây giờ tôi là Trưởng ban văn thư Văn phòng Khu ủy
Khu 9.
Anh Nguyễn Văn Kỉnh (Tư Kỉnh) thay
mặt Thường vụ Xứ ủy trực tiếp chỉ đạo mọi mặt cơ quan này. Chánh văn phòng là
anh Phan Triêm (Sáu Triêm), Phó văn phòng là anh Nguyễn Văn Sáu (Sáu Ú - Nguyên
Chánh văn phòng Khu ủy Khu 9).
Văn phòng có nhiều bộ phận, tôi được
phân công về bộ phận thư ký - nghiên cứu cùng với anh Nguyễn Hoàng Kính, anh
Nguyễn Thái Nghiệp, bộ phận này do anh Nguyễn Trung Tín phụ trách.
Công tác ở môi trường mới, rộng lớn hơn,
có nhiều khó khăn đòi hỏi phải cố gắng vươn lên, vượt qua. Đồng thời cũng có
nhiều thuận lợi để học hỏi tiến bộ. Với sự cố gắng của mình, sự giúp đỡ của
đồng nghiệp nên thời gian quen việc, quen người rút ngắn dần. Tôi cảm thấy
thích thú hơn trong công tác, tiến bộ hơn về mọi mặt, nhất là về mặt kiến thức
và tư tưởng so với lúc làm ở Văn phòng Khu ủy.
Ngoài công tác chuyên môn, chúng tôi
còn phải luân phiên đi lao động sản xuất như làm ruộng, xay lúa, giã gạo, chăn
nuôi, đánh bắt cá, trồng rau cải… để cải thiện đời sống và cũng là để tự rèn
luyện mình.
Tại đây tôi còn được học lý luận
Mác-Lênin ở trường Đảng và được dự lớp chỉnh huấn khóa đầu tiên ở Nam Bộ tại
trường Trường Chinh do anh Hà Huy Giáp, Ủy viên Trung ương Cục miền Nam phụ
trách.
Có thể nói thời gian công tác ở Văn
phòng Xứ ủy Nam Bộ, rồi Trung ương Cục miền Nam là thời kỳ tạo dựng cho tôi một
nền móng vững chắc về mọi mặt, giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn, thách thức
trong cuộc sống, có khi giữa sự sống và cái chết gần kề trong công tác nội
thành ở miền Nam trong thời kỳ chống Mỹ sau này.
Kỷ niệm thứ hai: Từ việc ở lại miền
Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 trở thành phải tập kết ra Bắc:
Năm 1952, khi sáp nhập Văn phòng
Trung ương Cục miền Nam với Văn phòng Ủy ban Kháng chiến - Hành chánh Nam Bộ
gọi là Văn phòng Trung ương Cục - Ủy ban Nam Bộ, tôi được phân công chuyên
trách công tác Đảng ở Văn phòng. Tổ chức Đảng lúc bấy giờ gọi là Liên xứ ủy
(như Liên chi ủy). Bí thư là anh Phạm Chung (Chánh Văn phòng Trung ương Cục -
Ủy ban), Phó bí thư là anh Phan Triêm (Phó văn phòng Trung ương Cục - Ủy ban),
tôi là Ủy viên Thường vụ phụ trách tổ chức.
Khi Hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết, tôi
được Liên xứ ủy phân công tổ chức lớp học cho anh chị em thuộc khối văn phòng
không đi tập kết. Tôi cũng thuộc diện ở lại nên rất thích thú làm việc này.
Một hôm vào tháng 9/1954, anh Tư
Kỉnh, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam gọi tôi đến chỗ làm việc của ảnh để bàn
công việc. Tôi đến nơi, sau những lời chào hỏi vui vẻ, anh Tư trầm lại, nói nhỏ
nhẹ, chậm rãi, cử chỉ như thường khi có việc nghiêm túc cần nói.
"Anh Hai Hùng vừa có thư cho
tôi xin anh về công tác với ảnh tại Ủy ban Liên hiệp đình chiến Nam Bộ (đóng
tại Phụng Hiệp - Cần Thơ) vì đang cần người biết tiếng Pháp để làm việc với đối
phương. Anh nghĩ sao?" - anh Tư nói.
Tôi đã xác định việc gì Đảng cần,
tôi sẵn sàng chấp hành. Tuy nhiên, tôi cũng có băn khoăn, nếu công khai làm
việc với địch thì chắc không thể ở lại được, trong khi tôi đã bàn bạc cụ thể
với gia đình và vợ tôi (mới cưới vài tháng nay) về việc ăn ở, sinh sống và hoạt
động sau này thế nào vì hai vợ chồng đều được Đảng bố trí ở lại. Thật tình tôi
muốn ở lại. Tôi thành thật trình bày với anh Tư.
"Ở lại cũng vinh quang, đi cũng
vinh quang. Vấn đề là Đảng đang cần mình ở đâu? Do đó theo tôi anh nên về với
anh Hai Hùng vì ảnh đang cần" - anh Tư ôn tồn nói.
Anh Tư nói vậy thì tôi đành phải
nghe theo.
Về Liên hiệp đình chiến Nam Bộ, tôi
được phân công cùng đi với các đoàn công tác hỗn hợp của ủy ban đến các chốt
như Giá Rai, Cà Mau. Đoàn có đại diện phía ta, phía Pháp và ngụy quân Sài Gòn.
Công việc tuy mới mẻ nhưng không có gì khó khăn, trở ngại lớn vì mỗi bên cũng
cố kiềm chế, không để xảy ra việc gì đáng tiếc trong vòng 200 ngày chuyển quân
tập kết.
Đến ngày bàn giao khu vực Cà Mau cho
đối phương, tất cả cán bộ, nhân viên phái đoàn phải về Cà Mau để thực hiện thủ
tục bàn giao, sau đó ra tàu Kilinski, chuyến tàu cuối cùng của miền Nam ra miền
Bắc vào ngày 8/2/1955 đang chờ sẵn tại cửa biển sông Ông Đốc.
Buổi bàn giao được tiến hành tại sân
sau Nhà lồng chợ Cà Mau, trang nghiêm nhưng đầy xúc động của kẻ ở, người đi.
Sau bài phát biểu của anh Phạm Hùng
- Trưởng phái đoàn Liên hiệp đình chiến Nam Bộ là làm lễ rước ảnh Bác Hồ ra Bắc
đầy nước mắt của đông đảo bà con có mặt hôm đó.
Tôi nghẹn ngào không kềm được nước
mắt khi nhìn thấy bà con mình tay không đứng cạnh đám ngụy quân tay lăm le
súng, mặt mày hung ác! Rồi sẽ ra sao khi ta rút đi? Chừng nào mới hết cảnh này?
Ra miền Bắc tôi được phân công về
Ban Thống nhất của Chính phủ do đồng chí Phạm Hùng phụ trách để góp phần lo cho
miền Nam. Sau đó, tôi được đi Liên Xô học trường Đại học Tài chính - Ngân hàng
đến cuối năm 1964. Đầu năm 1965 về nước, tôi lại được Đảng bố trí về Nam hoạt
động công khai hợp pháp với địch để lo tổ chức tiếp nhận tiền (chủ yếu ngoại
tệ) của Trung ương chi viện cho miền Nam.
Đơn vị bí mật này có tên gọi là Ban
Tài chánh đặc biệt trực thuộc Trung ương Cục miền Nam (bí số N2683) đặt dưới sự
chỉ đạo đơn tuyến của Thường vụ Trung ương Cục miền Nam, mà trực tiếp là đồng
chí Bí thư Trung ương Cục Phạm Hùng và đồng chí Phạm Văn Xô. Đơn vị được Nhà
nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân bằng Quyết định
số 613/QĐ-CTN do Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký ngày 28/4/2009 vì đã có
thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Tôi thật không ngờ, sau 10 năm rời
khỏi Văn phòng Trung ương Cục miền Nam thời kỳ chống Pháp (1954-1964), đến thời
kỳ 10 năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1965-1975) tôi lại có duyên trở
lại hoạt động dưới trướng "mẹ" hiền - Trung ương Cục miền Nam. Thật
là duyên tiền định!
Lữ Minh Châu Nguyên cán bộ Nghiên cứu Văn phòng Trung ương
Cục miền Nam - Ủy ban Kháng chiến - Hành chánh Nam Bộ; nguyên Ủy viên Ban Chấp
hành Trung ương Đảng; nguyên Phó trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng Khu di tích lịch
sử cách mạng miền Nam.
|