Thứ năm, ngày 23/05/2013
  Liên hệ Sơ đổ Giới thiệu
TƯ LIỆU NHIỀU KỲ
Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Vài kỷ niệm khó quên

Cập nhật ngày: 08/07/2012 17:24:31

Năm 1945, tôi đang học ở Cà Mau thì cuộc Cách mạng Tháng Tám nổ ra và thành công trong cả nước, nhưng chẳng bao lâu sau thì bọn thực dân Pháp quay lại định cướp nước ta một lần nữa.

Theo tiếng gọi của Mặt trận Việt minh: '”Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”' tôi nghỉ học về nhà tham gia công tác thiếu nhi cứu quốc ở ấp Cái Rắn, xã Tân Hưng.

Năm 1946, khi giặc Pháp đánh chiếm tới Cà Mau, ta lập Mặt trận Tân Hưng để chống quân xâm lược. Đây là mặt trận cuối cùng của miền Tây Nam Bộ. Ấp Cái Rắn quê tôi chỉ cách mặt trận chừng 5 cây số đường sông, còn đường ô-tô Cà Mau - Năm Căn ta chủ động phá hoại trước để các loại xe cơ giới của giặc Pháp không đi được.

Ấp Cái Rắn thời bấy giờ là một trong những ấp khá trù phú, tuy có rất ít nhà lầu, nhà đúc kiên cố, phần lớn là nhà lá 3 gian 2 chái, cột gỗ kê tán đá xanh, cửa gỗ hộp rất chắc chắn, mái lợp lá dừa nước thật dày, sau khi tề (chặt) mái dày khoảng 0,50 m, 0,60 m, sau 4 đến 5 năm phải lợp lại.

Thời kỳ đó cách mạng mới vừa thành công nên đồng bào ta già, trẻ, gái, trai, tín đồ các tôn giáo (nhất là lớp trẻ) đều nô nức phấn khởi, hào hứng tham gia góp công, góp của cho cách mạng.

Khi ấy khi tôi mới 13-14 tuổi nhưng hăng hái cùng bà con trong ấp trực tiếp phục vụ cơm nước cho bộ đội ăn uống, lo tiếp đón thương binh từ mặt trận đưa về, lo chôn cất chiến sĩ tử trận ở nghĩa trang đầu ấp. Người chỉ huy Mặt trận Tân Hưng là cụ Vũ Đức (1) và ông Tăng Thiên Kim, các vị thường đứng trước mũi tàu, mặc quân phục, hông đeo súng lục trông thật oai hùng, chở bộ đội ra mặt trận. Tàu chạy từ sông Cái Rắn ra sông Bảy Háp quẹo (rẽ) trái ra mặt trận Tân Hưng.

Năm 1948, tôi đi dự lớp bồi dưỡng cán bộ Đoàn Thanh niên cứu quốc do Tỉnh đoàn Bạc Liêu mở tại Rạch Ráng (huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau hiện nay). Xong lớp huấn luyện tôi trở về nhà lại được các bác lãnh đạo ấp giới thiệu cho thoát ly gia đình vào làm thợ dệt ở xưởng dệt tự túc của Văn phòng Xứ ủy Nam Bộ do ông Võ Quang Tích làm Giám đốc. Xưởng đóng ở ấp Long Trị, xã Long Bình, cách thị trấn Long Mỹ 2 cây số.

Năm 1950, tôi vinh dự được đi đón phái đoàn Trung ương cử vô Nam Bộ công tác. Đoàn do anh Sáu Lê Đức Thọ làm Trưởng đoàn. Buổi đón ấy vào ban đêm tại thị trấn Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ (nay thuộc tỉnh Hậu Giang). Do sự sắp xếp các cơ sở sản xuất tự túc của trên, tôi được về công tác ở Văn phòng Xứ ủy Nam Bộ (sau là Văn phòng Trung ương Cục miền Nam) do anh Phan Triêm làm Chánh văn phòng, anh Nguyễn Văn Sáu (Sáu Ú) làm Bí thư chi bộ - Phó văn phòng và anh Nguyễn Văn Cang (Năm Cang) Phó văn phòng phụ trách hậu cần, lễ tân. Anh Lê Công Trương (Tư Trương) làm Trưởng phòng Tài chính - kế toán. Thời gian này cơ quan Văn phòng Trung ương Cục miền Nam, các ban ngành đóng ở kinh 30 Huyện Sử, Ngang Dừa... thuộc huyện Hồng Dân.

Khi Trung ương Cục miền Nam và các cơ quan, ban ngành chuyển xuống đóng các nơi trong huyện Cái Nước, Đầm Dơi, Ngọc Hiển, Trần Văn Thời... thì tôi được đưa qua công tác ở Ban Tài chính do cụ Bảo và anh Sáu Nguyễn Văn Triển phụ trách và được phân công làm kế toán Ban Tiếp lương do ông Đinh Công Trần làm Trưởng ban.

Nhiệm vụ chính của Ban Tiếp lương là đi xuống các địa phương lãnh lúa thuế nông nghiệp chở về dự trữ, tổ chức riêng chỗ xay giã; các ban ngành thuộc Trung ương cục miền Nam cử cán bộ, công nhân viên đến đó lãnh lúa, xay giã ra gạo đem về từng cơ quan ăn.

Thời gian ấy rau củ ở trên rẫy, ruộng, cá tôm, cua ở dưới sông, kinh xáng rất nhiều, dễ đánh bắt, giá cả rất rẻ, cơ quan đơn vị nào cũng đều tự túc lo việc ăn uống cho mình. Đời sống vật chất của bộ đội, cán bộ, công nhân viên cũng như đồng bào vùng tự do của ta tuy còn nhiều thiếu thốn khó khăn, song đời sống tinh thần thì rất hồ hởi, phấn khởi, mọi người đều đoàn kết giúp nhau trong cuộc sống, hăng hái thi đua góp công, góp của cho cuộc kháng chiến cứu nước.

Do nhiều năm làm các công việc phục vụ gần các anh lãnh đạo nên tôi biết khá rõ cuộc sống của các anh ấy ở khu căn cứ U Minh, Cà Mau như sau:

Khi các cơ quan, ban ngành trực thuộc Trung ương Cục miền Nam và Ủy ban Kháng chiến - Hành chánh Nam Bộ từ căn cứ Đồng Tháp Mười chuyển xuống căn cứ U Minh, Cà Mau. Thường thì khoảng 2 hay 3 tuần lễ cơ quan di chuyển một lần.

Để giữ bí mật nhằm tránh máy bay của địch bắn phá cơ quan đầu não của ta nên việc di chuyển thường đi ban đêm. Mỗi anh lãnh đạo (nếu có chị theo) đều sử dụng một chiếc ghe tam bản mui ống 4 chèo, do 2 anh liên lạc chèo tay. Tất cả phương tiện làm việc và phương tiện sinh hoạt hằng ngày (kể cả bếp lò) cùng tài sản riêng của các anh đều ở trong chiếc ghe này.

Về phương tiện làm việc tôi thấy có 1 chiếc radio chạy ắc-quy, tài liệu, sách báo (kể cả sách báo xuất bản trong vùng địch tạm chiếm và sách báo tiếng nước ngoài), bản tin hàng ngày của thông tấn xã, đồng hồ đeo tay...

Về phương tiện sinh hoạt như quần áo, guốc dép, đồ ăn thức uống hàng ngày.

Về những tài sản quý như vàng bạc, tiền tôi thấy hầu như không có gì. Những khoản cần chi cho công việc lãnh đạo, chỉ đạo của các anh (kể cả ngoại tệ mạnh) theo dự trù thì thư ký văn phòng của mỗi anh trực tiếp đến Ban Tài chính ký lãnh đem về chi tiêu theo quy định. Xong việc hoặc cuối kỳ thì thanh quyết toán với Ban Tài chính.

Bên Ủy ban Kháng chiến - Hành chánh Nam Bộ thì thanh quyết toán với Sở Tài chính ngân khố Nam bộ. Các anh lãnh đạo đều toàn tâm, toàn ý lo chỉ đạo công cuộc kháng chiến mau đến thành công, không chút gì nghĩ đến quyền lợi riêng của mình.

Chính từ tấm gương các anh lãnh đạo như vậy làm cho anh chị em chúng tôi bên dưới noi theo. Mọi người chỉ lo làm tốt nhiệm vụ của cơ quan giao cho, không ai thu vén gì cho riêng mình cả. Cuộc sống của chúng tôi khi đó thật trong sáng vô tư, hừng hực khí thế của tuổi trẻ đi theo cách mạng buổi ban đầu.

Từ khi Hiệp định Giơ-ne-vơ có hiệu lực cho đến khi tôi đi tập kết ra miền Bắc, tôi còn trực tiếp tham gia một số công việc dưới đây mà bản thân không thể nào quên:

Tiếp đón phục vụ các nhân sĩ trí thức Sài Gòn ra thăm vùng tự do của ta

Năm 1954 khi hòa bình lập lại, các ban ngành của Trung ương Cục miền Nam và Ủy ban Kháng chiến - Hành chánh Nam bộ về đóng ở vùng Chắc Băng, Đập Đá, Vĩnh Thuận... huyện Hồng Dân. Từ trước đó, việc lo nấu nướng phục vụ ăn uống cho các cuộc làm việc, hội nghị của các anh lãnh đạo với các địa phương đều được chị Ba Di, anh Ba Đời lo liệu, với sự chỉ đạo của anh Năm Cang - Phó văn phòng.

Việc nấu nướng bảo đảm an toàn tuyệt đối, chu đáo và ngon miệng nên bữa tiệc liên hoan cuối cùng thường được lãnh đạo xuống tận bếp khen ngợi. Việc đón tiếp phục vụ khách Sài Gòn ra thăm cũng được giao cho chị Ba Di, anh Ba Đời nấu nướng. Tôi và số anh chị em khác như anh Tâm, chị Loan, anh Tám Thạo, anh Bình, anh Hiêm... lo đón rước, bố trí nơi ăn ở, đi lại của khách.

Chúng tôi được phổ biến trước, đây là các nhân sĩ trí thức có cảm tình với kháng chiến, có xu hướng ủng hộ Chính phủ Trung ương do Hồ Chủ tịch đứng đầu, một số là bạn bè thân hữu của các anh lãnh đạo Ủy ban Kháng chiến - Hành chánh Nam Bộ.

Những buổi gặp gỡ giữa chủ với khách tôi thấy có các anh lãnh đạo: giáo sư Phạm Thiều, Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, Chủ tịch Phạm Văn Bạch, Phó chủ tịch Phạm Ngọc Thuần, giáo sư Ca Văn Thỉnh... Nội dung các buổi tiếp khách thì tôi không được rõ, song qua cử chỉ, thái độ của khách tôi tin rằng các buổi tiếp khách đạt kết quả mỹ mãn.

Được tiếp phục vụ phái đoàn Chính phủ Trung ương do Bác Hồ cử vào thăm hỏi đồng bào, bộ đội, cán bộ, công nhân viên ở khu tập kết 200 ngày Mũi Cà Mau

Năm 1954, hòa bình lập lại tôi được cơ quan cho học tập về thắng lợi của việc ký kết hiệp định này với những nội dung chính như phía Pháp công nhận chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam từ mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau, tạm thời lấy vĩ tuyến 17 để chia tách lực lượng 2 bên.

Phía Pháp và chính quyền thân Pháp tạm thời quản lý từ vĩ tuyến 17 trở xuống.

Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý từ vĩ tuyến 17 trở lên, lấy sông Bến Hải chảy ra Cửa Tùng làm giới tuyến quân sự tạm thời, cầu Hiền Lương bắc ngang sông Bến Hải được chia đôi mỗi bên quản lý một nửa, sau 2 năm thực hiện Tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Sở dĩ Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 được ký kết là do quân dân ta đã bao vây tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắt sống tướng De Castrie và hàng vạn quân viễn chinh Pháp. Khi ấy bộ đội, cán bộ, công nhân viên, đồng bào ta ở vùng tự do cũ và vùng mới tiếp quản 200 ngày đều được học tập, nghe tuyên truyền về những thắng lợi của ta trong việc ký kết hiệp định. Tạo được không khí vui mừng phấn khởi của đồng bào khắp vùng, bà con càng tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương do Hồ Chủ tịch đứng đầu.

Sau đó ít lâu thì Trung ương và Bác Hồ quan tâm cử phái đoàn trực tiếp vào Cà Mau thăm hỏi đồng bào, cán bộ, bộ đội, giải thích những thắng lợi của việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ. Phái đoàn do ông Trần Huy Liệu làm Trưởng đoàn, ông Hoài Thanh làm Phó đoàn và một số cán bộ các ban, phóng viên các báo.

Khi phái đoàn xuống tới Cà Mau, làm việc với Trung ương Cục miền Nam - Ủy ban Kháng chiến - Hành chánh Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Nam Bộ và chuẩn bị nói chuyện với đồng bào, bộ đội, cán bộ... Tại cuộc mít-tinh lớn ở Sân banh Cà Mau có tới hàng chục ngàn người dự, nhiều bà con ở các xã, các huyện xa Cà Mau 20, 30 cây số chèo xuồng suốt đêm về Cà Mau dự để nghe ông Trần Huy Liệu nói chuyện về ý nghĩa thắng lợi của việc ký Hiệp định, về Ủy ban kiểm soát giám sát quốc tế, Ban Liên hợp đình chiến...

Ông trịnh trọng đọc thư Hồ Chủ tịch gởi đồng bào, bộ đội, cán bộ và ông kêu gọi mọi người nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp định, hoàn thành tốt công việc tập kết chuyển quân. Trong suốt thời gian tập kết chuyển quân ở Cà Mau, các đoàn văn công, chiếu bóng, ca múa nhạc... thay phiên nhau biểu diễn phục vụ đồng bào, tạo được không khí vui tươi, tin tưởng khắp vùng.

Xin nói rõ thêm một chút về 2 ông trưởng, phó đoàn: Ông Trần Huy Liệu, cán bộ cao cấp của Trung ương Đảng, là nhà sử học nổi tiếng. Năm 1945, ông được Hồ Chủ tịch cử vô Huế chứng kiến lễ thoái vị của vua Bảo Đại và thu Ấn kiếm của nhà vua trước cửa Ngọ Môn với sự chứng kiến của hàng chục vạn đồng bào; Ông Hoài Thanh là nhà văn yêu nước, nhà phê bình văn học nổi tiếng trước Cách mạng tháng Tám 1945 (thuộc nhóm Hoài Thanh - Hoài Chân).

Chuẩn bị đi tập kết ra Bắc

Khi được cơ quan cho đi tập kết thì tôi rất mừng. Những anh chị em được đi tập kết lúc đó đều vui mừng như vậy cả. Mọi người đều nô nức khẩn trương chuẩn bị từ giã gia đình, bạn bè, lo mua sắm đồ dùng cá nhân, nhất là đồ rét.

Mặc dù được cơ quan và qua những anh em quê ở miền Bắc hướng dẫn nhưng do chưa có thực tế, chưa biết thế nào là giá rét của mùa đông ở miền Bắc nên việc chuẩn bị của tôi không đạt yêu cầu (thực tế chợ Cà Mau khi đó hàng hóa chỉ có vậy).

Xin kể qua việc mua sắm đồ đạc của tôi như sau: áo len mỏng cao cổ, vớ sợi, giầy vải bata, khăn rằn, quần áo, tấm đắp bằng vải kaki; đồ ăn, thuốc uống, có tôm khô, hộp cá mòi, lọ mứt gừng, dầu Nhị Thiên Đường, hộp Bastivalda, sữa Nesthé, đường cát trắng và mấy ổ bánh mì. Khi lên tàu được lãnh cơm canh nóng đem về sạp ăn theo mâm, theo tổ, lúc đó mọi người đem đồ ăn riêng của mình ra góp vào cùng ăn vui vẻ với nhau.

Tôi đi chuyến áp chót ở cửa sông Ông Đốc do tàu Kilinski của Ba Lan chở. Đây là tàu chở hàng của bạn được sửa lại để chở người của ta đi tập kết. Vì vậy, anh chị em đều ăn uống nghỉ ngủ trên các dãy sạp mới đóng bằng gỗ thông xung quanh các khoang (hầm) chứa hàng trước đây.

Không rõ do quy định của Ban Liên hợp đình chiến hay do cửa sông Ông Đốc cạn mà tàu Kilinski phải neo đậu ngoài khơi. Tất cả hàng hóa máy móc thiết bị, quân cụ, bộ đội, cán bộ, công nhân viên đều được đưa bằng ghe, tàu nhỏ từ sông ra khơi mới lên tàu.

Ghe chở chúng tôi từ Cà Mau ra Tắc Thủ rồi xuôi ra vàm sông Ông Đốc (ghe cà vom lớn, chèo tay, cũng có đoàn khác đi bằng tàu gỗ, ghe máy). Trên các ghe tàu này đều cắm cờ đỏ sao vàng, cờ hòa bình (nền vải xanh hình bồ câu trắng ở giữa) trông rất oai nghiêm. Lúc xuất phát ở Cà Mau được đông đảo bà con lưu luyến vẫy tay tiễn, dọc đường gặp xuồng ghe xuôi ngược đều được bà con tạm biệt bằng cách đưa 2 ngón tay hẹn gặp lại.

Anh chị em chúng tôi nhiều lúc cùng nhau hát vang những bài ca cách mạng, nói cười vui vẻ. Tôi nhớ rõ 2 bên bờ sông Ông Đốc lá dừa nước xanh rì chạy ngút ngàn, ở các vàm kinh rạch 2 bên sông như rạch Ông Bích, Ông Tự, Rạch Bần, Rạch Ráng… ô rô, dây cóc kèn, dây cám… bám đầy trên thân bần, cây mắm.

Trên bờ thì có lơ thơ các chòi lá của bà con để đóng đáy, đánh bắt cá tôm, còn phần đông bà con thì ở sâu trong các kinh rạch đó, muốn vào phải kéo xuồng qua đập vì vào mùa khô nước bên ngoài đập thì mặn, bên trong đập thì ngọt.

Tôi không nhớ chính xác ngày tháng mấy lên tàu đi ra miền Bắc nhưng nhớ rõ ngày tàu đến cửa biển Sầm Sơn, Thanh Hóa đúng vào 30 Tết Nguyên đán. Sáng mùng một Tết thì được đón lên bờ. Tàu chạy từ cửa sông Ông Đốc đến cửa biển Sầm Sơn hết 4 ngày đêm. Khi tàu chạy ngang qua Bà Rịa Vũng Tàu hay Đà Nẵng hoặc những buổi sáng sớm, chúng tôi những người trẻ không bị say sóng thường lên boong hít thở không khí trong lành và xem mặt trời mọc từ dưới biển nhô lên thật đẹp, nếu ban đêm thì thấy đèn điện giăng giăng nhấp nháy phía bờ xa.

Về tổ chức đón của Ban Tiếp đón Trung ương ở Sầm Sơn thật thân tình chu đáo như đón tiếp người ruột thịt đi lâu ngày mới về. Một vài mẩu chuyện sau đây mà cả đời tôi không bao giờ quên:

Tàu Kilinski đến biển Sầm Sơn cũng neo đậu ngoài khơi, rồi trong đất liền đưa thuyền ra đón chúng tôi vào bờ. Hôm đó gặp lúc nước ròng (kiệt) sông Sầm Sơn chỉ còn là con lạch nhỏ giữa sông, 2 bên bờ là bãi sình lầy ra xa hàng chục thước.

Ban Tiếp đón đã cho lấy những cây vầu, cây nứa kết thành bè rộng để trên mặt sình làm cầu phao đón chúng tôi. Đứng dọc 2 bên cầu phao là anh chị em phục vụ giúp mang vác đồ đạc, dìu những người già yếu về nơi ở… Thật cảm động biết bao, tình cảm biết bao!

Để kết thúc bài viết này tôi xin phép được nói mấy ý sau:

Đảng Cộng sản Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu sáng lập và đứng đầu, đã tổ chức lãnh đạo nhân dân ta vượt qua vô vàn khó khăn gian khổ, chịu nhiều hy sinh mất mát để đánh thắng oanh liệt 2 tên đế quốc Pháp, Mỹ, cùng bè lũ tay sai của chúng, giành lại độc lập, tự do hoàn toàn cho dân tộc, thực hiện thống nhất vĩnh viễn đất nước Việt Nam yêu quý của chúng ta.

Hiện nay đang thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Bản thân tôi từ thuở còn niên thiếu, nay tuổi đã gần 80, tôi rất vinh dự, tự hào được sinh ra, lớn lên ở thời kỳ có Đảng và sớm đi theo kháng chiến do Đảng tổ chức và lãnh đạo, góp phần công sức nhỏ bé của mình vào 2 cuộc chiến đấu anh hùng đầy vinh quang của dân tộc (công lao ấy như một hạt cát trong sa mạc mênh mông).

Ngày nay với tình hình nhiệm vụ và yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo sáng suốt dày dạn kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam, theo tư tưởng đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, tôi có đủ cơ sở để hoàn toàn tin ở tầng lớp trẻ tuổi với trình độ chuyên môn, năng lực trí tuệ ngày càng cao, họ sẽ kế thừa xứng đáng nhất truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần bất khuất của ông cha lớp người đi trước; họ sẽ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam yêu quý của chúng ta.

Hồ Phú Quới 

Nguyên cán bộ Văn phòng Xứ ủy Nam bộ và Ban Tài chánh Xứ ủy Nam Bộ.

(1) Mãi sau này tôi mới biết cụ Vũ Đức là đồng chí Hoàng Đình Dong quê Cao Bằng, một chiến sĩ cộng sản tiền bối bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo. Năm 1945 ta đưa tàu ra rước về đất liền, sau đó đồng chí lại tham gia ngay cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ - chưa kịp về thăm quê nhà.

 

 


CÁC TIN ĐÃ ĐƯA
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Đôi điều ghi nhớ trong thời gian làm lính văn phòng Xứ ủy, Trung ương cục miền Nam - Ủy ban Nam Bộ
 - (08/07/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Ký ức một thời đã qua
 - (08/07/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Dân Y viện Nam Bộ - một thời để nhớ!
 - (08/07/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Hộ sinh Viện trưng nữ miền Tây Nam Bộ
 - (25/06/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Ngành dược Nam Bộ ra đời như thế!
 - (25/06/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Sở Y tế quân dân Nam Bộ - Một thời huyền thoại để nhớ! (1947-1954)
 - (20/06/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Ngành Y tế thời kháng chiến chống Pháp trên chiến khu U Minh miền tây Nam Bộ (tt)
 - (20/06/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Một thời đáng nhớ ở căn cứ địa Cà Mau (1950-1954)
 - (20/06/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Ngành Y tế thời kháng chiến chống Pháp trên chiến khu U Minh miền Tây Nam Bộ
 - (13/06/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955): Một số hoạt động của Sở Giao thông liên lạc Nam Bộ - (06/06/2012)


PHÓNG SỰ ẢNH
Bạn bị ảnh hưởng gì khi giá tiêu dùng tăng cao?



  Xem kết quả...