Thứ tư, ngày 22/05/2013
  Liên hệ Sơ đổ Giới thiệu
TƯ LIỆU NHIỀU KỲ
Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Chuyện chưa kể về gia đình liệt sĩ góp của, góp công cho xứ ủy Nam Bộ

Cập nhật ngày: 22/07/2012 18:29:07

Chúng tôi tiếp tục trở lại Trí Phải bởi lẽ với kế hoạch tôn tạo Khu căn cứ Xứ ủy Nam Bộ - Trung ương Cục miền Nam (giai đoạn cuối năm 1949 - đầu năm 1955) của Tỉnh ủy, huyện Thới Bình là khu vực trung tâm tôn tạo và "điểm nhấn" chính là xã Trí Phải (cũ) {nay bao gồm xã Trí Phải và Trí Lực. Xã Trí Phải được nhắc đến trong bài viết là xã Trí Phải trước khi chia tách}.

Xã Trí Phải trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ có diện tích tự nhiên trên 7.000 ha, có cả rừng và đồng bằng nằm dựa vào vùng U Minh Thượng, tiếp giáp xã Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

Thế nhưng, sở dĩ xã được chọn là địa bàn đóng quân của nhiều đơn vị như: Nhà in Trần Phú, Phụ nữ Nam bộ, Ban Tuyên huấn Trung ương Cục, Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, Trường Đào tạo cán bộ nông dân miền Tây… không chỉ vì địa hình phức tạp mà chính vì lòng dân Trí Phải luôn hướng về Đảng, về cách mạng, sẵn sàng đóng góp của, góp công, kể cả hy sinh tính mạng để che chở, nuôi giấu, bảo đảm sự an toàn cho cán bộ, chiến sĩ. Chuyện về ông Hai Hương (Phạm Văn Hương) và gia đình là một trong những tấm gương tiêu biểu cho sự đóng góp của quân dân Cà Mau cho ngày độc lập, thống nhất đất nước.

Lần tìm về lịch sử

Theo chân anh Cao Hồng Lĩnh, cán bộ Bảo tàng tỉnh Cà Mau, chúng tôi tìm đến nhà ông Ba Tùng (Phạm Văn Tùng) ngụ ấp 1, xã Trí Phải. Trước đó, anh Lê Công Uẩn, Giám đốc Bảo tàng, dặn dò trước là chúng tôi có thể "không làm việc được như mong đợi", bởi các bác, các chú lão thành cách mạng là nhân chứng lịch sử trong giai đoạn này tuổi cao, sức yếu.

Thế nhưng, khi gặp được ông Ba Tùng, ông lại là người vui nhất. Bước sang tuổi 84, trông ông còn rất minh mẫn và khỏe mạnh. Ông nói: "Tôi sợ mình không kịp để lại cho con cháu những tư liệu lịch sử quý báu về những đóng góp cũng như hy sinh của đồng chí, đồng đội cho vùng đất này… thì có lỗi lớn lắm".

Năm 1946, ông tham gia cách mạng. Đến năm 1949, ông là cán sự thanh niên cứu quốc ấp 3, xã Trí Phải. Năm 1950-1954, là Ủy viên Ban Chấp hành Thanh niên cứu quốc xã Trí Phải. Năm 1955 là Ủy viên Xã đoàn Thanh niên lao động. Năm 1956 địch bắt ở tù, giam ở Xẻo Rô (thuộc tỉnh Kiên Giang). Giam được 1 năm thì địch bắt đày Quốc lộ 21 tỉnh Đắk Lắk.

Không kết tội được người chiến sĩ yêu nước, chúng không thả về mà câu lưu bắt làm lộ. Năm 1958, vượt ngục trở về, sau khi làm bản tự phê, ông Ba Tùng tiếp tục làm công tác mặt trận xã để diệt ác, phá kềm. Sau Nghị quyết 15, ông về phụ trách ấp 7, kinh 4, xã Trí Phải, sau đó làm Xã đội phó phụ trách công trường xã, Trưởng ban nhân dân cách mạng ấp 7.

Năm 1975 ông làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Trí Phải. Năm 1979-1983, Bí thư xã Trí Phải Trung. Cuối năm 1983 làm Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện, đến năm 1988 nghỉ hưu.

Là người chứng kiến những thăng trầm, đổi thay ở vùng đất này hơn nửa thế kỷ qua, ông Ba Tùng xác nhận: "Trung ương Cục miền Nam đóng tại nhà ông Hai Hương, ở khu vực kinh 4. Văn phòng chỗ hội họp nhà ông Trần Phi Sơn (bí danh Ba Cần, tên cúng cơm là Trần Văn Dư)".

Anh Lê Công Uẩn, Giám đốc Bảo tàng, cho biết: "Các chú, các bác từng có thời gian hoạt động cũng xác nhận, căn nhà của ông Hai Hương chính là Ủy ban Kháng chiến - Hành chánh Nam Bộ".

"Tôi và anh Hai Hương cùng sinh hoạt chung tổ Đảng ấp 3. Tổ này có 5 người, 3 người còn lại là Trần Phi Sơn, Huỳnh Văn Sóc, Trần Hoài Ngọc. Năm 1946, ông Hương tham gia Đảng Cộng sản Đông Dương. Sáu tháng sau trở thành đảng viên chính thức" - ông Ba Tùng cho biết thêm.

Năm 1950, ông Hương được phân công lãnh đạo tổ Đảng. Trần Hoài Ngọc là cảnh sát viên cùng chính quyền ấp. Trần Phi Sơn là Ấp đội trưởng. Huỳnh Văn Sóc, Ấp đội phó. Còn ông Ba Tùng làm việc ở Xã đoàn. Tháng 11/1949, Trung ương Cục đóng quân tại khu vực nhà ông Hai Hương.

Ông Ba Tùng khẳng định: "Ông Hai Hương không nghĩ gì đến quyền lợi riêng của mình. Cách mạng cần gì ông cũng đáp ứng mà không đòi hỏi một điều gì hết".

Hiến dâng cho cách mạng

Ông Hai Hương (sinh năm 1918), lớn lên trong một gia đình bần cố nông, có đông anh em. Gia đình nghèo, phải chạy giặc từ Lung Lá - Nhà Thể về sống ở kinh 4, xã Trí Phải. Bà Phạm Thị Hường là em thứ 10 của ông Hai Hương (hiện đang sống tại phường 8, TP Cà Mau) cho biết: "Người ta hay gọi anh tui là Hai Hương là gọi theo bên vợ, chứ ở nhà ảnh thứ ba. Anh Ba có vóc người to cao, đẹp trai. Tham gia hoạt động từ hồi chín năm chống Pháp nhưng anh không đi tập kết mà ở lại hoạt động nằm vùng".

Ông lập gia đình với bà Võ Thị Lai sinh được 4 người con gái và 1 người con trai. Ở khu vực này lúc đó cá nhiều nhưng gạo thường thiếu. Tranh thủ những lúc không hoạt động, vợ chồng ông trồng trúng 3 công gừng đem qua Kiên Giang bán.

Mặc dù gia cảnh bẩn chật nhưng thấy cán bộ của Trung ương Cục miền Nam làm việc trong căn nhà lá của mình quá nhỏ, sinh hoạt bất tiện, ông bàn với vợ mua nhà 3 gian của địa chủ theo Tây để lại cất cho Trung ương Cục mượn. Khi chuẩn bị tập kết, ông Hai Hương dành 3 công đất để cất câu lạc bộ cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân học nghị quyết, xem phim… chuẩn bị cho tập kết.

Ngày 6/3/2010, chúng tôi có mặt ở nhà người con gái út Phạm Thị Tiễn đúng vào ngày cúng cơm ông Hai Hương nên biết thêm được nhiều thông tin quan trọng. Cô Phạm Thị Nguyệt, Phạm Thị Nga và Phạm Thị Tiễn (cô con gái lớn Phạm Thị Dung đã mất) đều nhớ rằng nhà mình có căn nhà lớn lắm.

Thế nhưng, ban ngày ở căn nhà cũ phía sau, buổi tối mới lên ngủ trong căn phòng nhỏ. Còn các gian nhà lớn "để các chú làm việc".

Cô Ba Nguyệt khi đó 11, 12 tuổi, thường theo mẹ đi hoạt động phụ nữ nên biết chuyện nhiều hơn các em. "Lúc đó tui được mấy cô chú dạy ca hát rồi rủ theo tập kết nhưng ba không cho đi. Sáng ngày tối đêm thấy chiếu phim, sinh hoạt đông vui lắm".

Sau tháng 7/1954, Mỹ - ngụy ra mặt phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ. Ở xã Trí Phải, từ chỗ chúng xây dựng đồn dân vệ và 1 ban tề xã, địch tăng cường thêm một đại đội bảo an, thành lập trung tâm biệt kích Mỹ với hàng chục cố vấn Mỹ và 120 lính ngụy bảo vệ, cộng với quân số các nơi đưa đến huấn luyện thường xuyên 500 tên, có lúc lên đến 800 tên do tên Lâm Quang Phòng ác ôn khét tiếng chỉ huy.

"Sau khi chúng tôi họp chuẩn bị tuyên truyền để nhân dân biết làm lễ kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, thì anh em giải tán. Riêng anh Hai Hương còn lần chần trong nhà vì thằng con trai duy nhất bị chết cháy trong mùng thì bị địch bao vây bắt Hai Hương.

Nói đến đây tui lại thấy thương, vì cả 2 vợ chồng bận hoạt động cách mạng, 2 đứa nhỏ ngủ trong mùng với nhau. Không biết loay hoay thế nào mà ngã ngọn đèn dầu, lửa thiêu thằng nhỏ" - ông Ba Tùng kể lại.

Gia đình kiên trung

Cô Ba Nguyệt nhớ lại buổi sáng buồn bã hôm đó: "Bảy giờ sáng cha đi đâu về mới ngồi uống nước thì tên Mến Sầm Hy đến. Cha tui không biết nó là điềm chỉ nên khi về Cà Mau là nó kêu lính vô bắt. 8-9 giờ sáng, thấy lính kéo đến đằng trước, cha chạy ra đằng sau thì nghe kêu đưa tay lên. Chạy ra đằng trước thì bị bắt trói. Sau đó chúng bắt luôn chú Bảy và giải xuống Thới Bình".

2 ngày sau, cô Ba Nguyệt, cô Út Tiễn được mẹ dẫn xuống Thới Bình thăm cha. Cô Nguyệt rớt nước mắt nghẹn ngào: "Đứng từ xa, tui thấy mặt mày cha bầm tím, quần áo rách nát. Má nói chắc là chúng tra tấn cha dữ lắm. Ba ngày sau, cha được giải về Huyện Sử cùng với chiếc hàng đóng bằng ván xuồng. Tên đại úy đi kế trói thúc ké.

Cha đập đầu vô mặt tên đó, nó giận rút súng bắn vô lỗ tai. Sau đó bọn chúng bỏ vô hàng chôn ở khu vực Nhà máy ông Xìu, gài lựu đạn xung quanh để gia đình không lấy thi thể được. Gần 17, 18 năm sau chị em tôi mới lấy hài cốt được".

Sau khi ông Hai Hương hy sinh, vợ là bà Võ Thị Lai và bà Biết (vợ của liệt sĩ Phạm Động Lực) sinh hoạt chung tổ Đảng lên tận Sài Gòn đòi nhà bị chúng dỡ đi, đòi xi-tẹc nước bị lấy, đòi hơn 2 ha mía bị đốn. Địch phải nhượng bộ, hứa hẹn. Dù chúng nuốt lời hứa nhưng cũng không tổ chức khủng bố như trước nữa.

Trong sách Cà Mau anh hùng - tập 1 (do Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì biên soạn, xuất bản năm 2003), ở trang 520 cung cấp thêm cho chúng ta những cứ liệu lịch sử về liệt sĩ Phạm Văn Hương: "Năm 1956, tiểu đoàn bảo an biệt kích bắt đồng chí Hai Hương vì chúng biết rõ đồng chí Hai Hương là đảng viên của Đảng bộ xã Trí Phải và lúc 9 năm kháng chiến chống Pháp, Ban Tuyên huấn Trung ương Cục đóng tại nhà đồng chí.

Chúng bắt đánh đập dã man nhưng đồng chí không hề khai báo. Một tên sĩ quan thám báo mang kính đen đến nhìn mặt đồng chí Hương. Tuy bị trói, đồng chí đã dùng đầu đánh vào mặt tên thám báo làm bể kính, bể chân mày. Chúng điên cuồng lôi đồng chí Hương ra bắn. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, đồng chí đã hô to: "Đảng Lao động Việt Nam muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm! Đả đảo Ngô Đình Diệm giết người!".

Khí tiết người cộng sản làm tăng thêm sức mạnh của lòng căm thù, bất chấp mọi hành vi đe dọa bằng súng đạn của giặc, lực lượng đấu tranh liên tục từ 100-500 lượt người, bằng đơn, thư, bằng miệng, bằng tung dư luận tại đồn bót, tề xã và chi khu. Bọn tề còn cho bọn dân vệ dỡ nhà, đốn mía lấy đồ dùng trong nhà của đồng chí Hai Hương.

Cuộc đấu tranh mở rộng đến tỉnh, Trung ương ngụy Sài Gòn do đồng chí Lai (vợ đồng chí Hai Hương) lãnh đạo liên tục hằng tháng trời đấu tranh với ngụy Sài Gòn, buộc chúng hứa phải bồi thường tài sản bị chúng cướp đoạt (ở đây có sự nhầm lẫn dẫn đến sai sót cần được đính chính. Đồng chí Lai - mới là vợ đồng chí Hai Hương - PV)".

Chúng tôi cũng xin được thông tin thêm về gia đình của ông Hai Hương - một gia đình cách mạng kiên trung. Mẹ của ông là bà Đỗ Thị Biết được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng có 3 con hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Hai em trai của ông cũng xả thân vì sự nghiệp cách mạng là liệt sĩ Phạm Văn Chánh, liệt sĩ Phạm Văn Quới và em rể là liệt sĩ Ngô Tùng Linh (chồng của bà Phạm Thị Hường).

Bà Võ Thị Lai, vợ ông cũng nêu cao tinh thần đấu tranh cách mạng của chồng và là người đảng viên hăng hái. Cô Tư Nga nhớ lại: "Má ở tù 3 lần. Lần ở Huyện Sử, Thới Bình, rồi Cà Mau. Cà Mau là lần lâu nhất, tới 1 năm mấy. Lúc đó, má dắt em Tiễn vô tù chung. Cha mất, mấy chị em tui vất vả lắm má đi hoạt động suốt nên chị em tự săn sóc nhau".

Mặc dù địch khủng bố, đàn áp nhưng bà Lai vẫn tích cực tham gia công tác phụ nữ. Cô Ba Nguyệt khẳng định: "Má hay dẫn tôi đi xuống Xóm Sở chằm lá, sau đó bỏ thư vô đem về. Rồi mua bí rợ, khoét ruột, bỏ thư vô đó, giả bộ đi bán hàng bông để đưa thư".

Sau đó vài năm căn nhà của bà Lai bị địch bỏ bom, bà bị gãy tay và được người thân lấy khăn rằn quấn tay chở đi bệnh viện. Trên đường đi đến kinh 5, xã Trí Phải bị pháo phóng chết tại chỗ. Trong đợt bỏ bom này của địch, trong kinh 4 có đến 19 người chết.

Đoàn Phương Nam 

Phóng viên Báo Cà Mau.

CÁC TIN ĐÃ ĐƯA
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
200 ngày – một cuộc biến đổi diệu kỳ!
 - (22/07/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Vài kỷ niệm khó quên
 - (08/07/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Đôi điều ghi nhớ trong thời gian làm lính văn phòng Xứ ủy, Trung ương cục miền Nam - Ủy ban Nam Bộ
 - (08/07/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Ký ức một thời đã qua
 - (08/07/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Dân Y viện Nam Bộ - một thời để nhớ!
 - (08/07/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Khu tập kết 200 ngày
 - (08/07/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Hộ sinh Viện trưng nữ miền Tây Nam Bộ
 - (25/06/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Ngành dược Nam Bộ ra đời như thế!
 - (25/06/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Sở Y tế quân dân Nam Bộ - Một thời huyền thoại để nhớ! (1947-1954)
 - (20/06/2012)
• Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955)
Ngành Y tế thời kháng chiến chống Pháp trên chiến khu U Minh miền tây Nam Bộ (tt)
 - (20/06/2012)


PHÓNG SỰ ẢNH
Bạn bị ảnh hưởng gì khi giá tiêu dùng tăng cao?



  Xem kết quả...