|
Sự ra đời của Xứ ủy Nam Bộ đến nay
đã hơn nửa thế kỷ và những năm tháng Xứ ủy lãnh đạo cuộc kháng chiến "đi
trước về sau" của nhân dân Nam Bộ trong một thời kỳ đầy khó khăn và phức
tạp đã để lại những dấu ấn đậm nét trên những trang sử vẻ vang của dân tộc.
Thời kỳ ấy cũng đã lưu lại những tình cảm sâu sắc trong lòng những cán bộ và
đồng bào đã từng công tác và gần gũi với các đồng chí lãnh đạo của Xứ ủy Nam
Bộ, đặc biệt là với đồng chí Lê Duẩn - Anh Ba Duẩn, trong vai trò lãnh đạo cao
nhất của Nam Bộ kháng chiến, Bí thư Xứ ủy.
Nhớ lại và suy nghĩ về "những
năm tháng không thể nào quên" ấy chúng tôi cảm nhận sâu sắc về sự lãnh đạo
sáng suốt đầy bản lĩnh, về tư tưởng cùng những tình cảm cách mạng của đồng chí
Lê Duẩn qua nhiều sự kiện lịch sử, đến nay vẫn luôn sáng tỏ trong tâm thức của
mỗi chúng tôi, những người được may mắn cùng sống, công tác và chiến đấu bên
cạnh đồng chí trong thời kỳ cách mạng gian khổ ấy.
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm
1945 thành công tại Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ, Ủy ban Khởi nghĩa đã kịp thời
đưa tàu ra Côn Đảo đón các cán bộ của Đảng bị địch bắt đày ra đây trở về đất
liền. Các đồng chí Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Hà Huy Giáp... là những
chiến sĩ cộng sản kiên cường, từng kinh qua bao thử thách, đã trở về đảm nhận
trách nhiệm lãnh đạo cuộc cách mạng đang sôi sục tại Nam Bộ.
Đã có ý thức trước tình hình cấp
bách lúc bấy giờ và đã có sự chuẩn bị trước nên khi tàu đưa đoàn cán bộ tù Côn
Đảo về đến Đại Ngãi (Sóc Trăng) thì các đồng chí đều lao ngay vào nhiệm vụ cách
mạng. Tất cả cán bộ đều được đưa ngay về các tỉnh toàn Nam Bộ để tăng cường
nòng cốt lãnh đạo chính quyền cách mạng và chuẩn bị kháng chiến, dưới sự lãnh
đạo thống nhất của Xứ ủy Nam Bộ, vừa được tổ chức lại, do đồng chí Lê Duẩn làm
Bí thư.
Một điểm thuận lợi là tất cả các cán bộ bị bọn thực dân đế quốc đày ải
ở Côn Đảo, khi trở về đều chịu ảnh hưởng sâu sắc trước đức độ và tài năng của
các đồng chí lãnh đạo đầy uy tín như: Lê Duẩn, Phạm Hùng... nên đã nhanh chóng
thống nhất với nhau về tư tưởng và đường lối cách mạng trước tình hình phức tạp
lúc bấy giờ.
Nhờ có được sự lãnh đạo sáng suốt,
đầy bản lĩnh của đồng chí Bí thư Xứ ủy và sự đồng tâm nhất trí của cán bộ nòng
cốt tại các tỉnh nên Đảng bộ và chính quyền cách mạng các cấp trong toàn Nam Bộ
đã được kiện toàn và dần dần khắc phục được tình hình chia rẽ về tổ chức và mâu
thuẫn về tư tưởng, quan điểm trong nội bộ. Từ đó, đã tạo lập được sự thống nhất
lãnh đạo của Đảng, tập trung vào cơ quan đầu não của Xứ ủy Nam Bộ.
Việc thống nhất về tư tưởng và tổ
chức đã gắn liền với việc xây dựng và phát triển Đảng về mọi mặt. Từ các phong
trào cách mạng, Đảng đã phát hiện, giáo dục và kết nạp vào hàng ngũ Đảng các
cán bộ ưu tú, kịp thời tăng cường năng lực cho sự lãnh đạo cách mạng của Đảng.
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Lê Duẩn, Xứ ủy đã liên tục tổ chức các
lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa Mác-Lênin, về lập trường
và quan điểm giai cấp công nhân, về đường lối cách mạng của Đảng dưới sự lãnh
đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chúng ta còn nhớ rõ, sau Cách mạng
Tháng Tám năm 1945, tại Nam Bộ nói chung và tại Sài Gòn nói riêng, có rất nhiều
tổ chức yêu nước và cách mạng nhưng chưa có sự thống nhất về lãnh đạo của Đảng.
Vì vậy, có tình hình chia rẽ giữa các nhóm Tiền Phong và Giải Phóng (sau là
Việt Minh mới và Việt Minh cũ). Về lực lượng quân sự, có rất nhiều tổ chức vũ
trang mà Đảng không nằm được quyền lãnh đạo như các sư đoàn đệ nhất, đệ nhị, đệ
tam, đệ tứ... quân đội các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo... Trong một số lực lượng
quân sự của các tôn giáo, Pháp đã tổ chức cài vào những tên tay sai để lũng
đoạn (như anh em Lại Hữu Tài, Lại Hữu Sang...).
Trước tình hình chính
trị và quân sự vô cùng phức tạp ấy, sau khi thống nhất được sự lãnh đạo về tổ
chức Đảng và chính quyền cách mạng các cấp, Xứ ủy Nam Bộ - với vai trò lãnh đạo
của đồng chí Bí thư Lê Duẩn, đã có chủ trương và biện pháp đúng đắn, từng bước
tổ chức lại các lực lượng chính trị và quân sự, thống nhất về một mối dưới sự
lãnh đạo của Xứ ủy, tập trung toàn bộ năng lực vào mục tiêu kháng chiến chống
giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc và giành độc lập cho Tổ quốc.
Đặc biệt về
sách lược đối với các lực lượng quân sự ô hợp và phản động, ta đã tranh thủ
được một số sĩ quan chỉ huy và binh lính vốn có tinh thần yêu nước, từ đó đã
phân hóa và tiến tới làm tan rã dần đội ngũ của chúng.
Ta chủ trương vừa vạch
mặt các chức sắc tôn giáo phản động ôm chân thực dân Pháp, vừa tranh thủ quần
chúng, binh lính, tín đồ bên dưới, đã lôi kéo được một bộ phận đi theo kháng chiến, như lực lượng quân sự của Cao Đài
12 phái thống nhất do cụ Cao Triều Phát làm Chưởng quản Cửu trùng đài. Đồng
thời, đồng chí Bí thư Lê Duẩn chỉ đạo nhanh chóng thành lập các Bộ Tư lệnh Khu
7, Khu 8 và Khu 9, tiến tới thống nhất chỉ huy và hình thành hệ thống lãnh đạo
của Đảng trong các tổ chức quân sự trên khắp các tỉnh Nam Bộ.
Trên chiến trường Khu 8, sau khi Tư
lệnh và Chính ủy Quân khu lánh xuống Khu 9, trong Bộ Tư lệnh còn lại hai người
vẫn tiếp tục hoạt động tại tỉnh Bến Tre là Tư lệnh phó Trương Văn Giàu và Tham
mưu trưởng Nguyễn Văn Quạn. Sau đó, Xứ ủy đã nhanh chóng bổ nhiệm đồng chí Trần
Văn Trà làm Tư lệnh trưởng và đồng chí Nguyễn Văn Vịnh làm Chính ủy, từ đó tăng
cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong các quân khu thuộc Nam Bộ.
Trong hoàn cảnh "thù trong,
giặc ngoài" quấy phá tại Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ lúc bấy giờ, lãnh đạo
Xứ ủy Nam Bộ vừa lo củng cố tổ chức các cơ sở Đảng và xây dựng hệ thống bộ máy
chính quyền cách mạng, vừa phải lo việc nắm giữ quyền lãnh đạo các tổ chức
chính trị và quân sự của các thế lực khác, đồng thời phải lo gấp rút tổ chức
lực lượng cho cuộc kháng chiến đang bùng nổ trên toàn Nam Bộ.
Trong tình thế "nước sôi lửa
bỏng" đó, một phái đoàn Mặt trận Việt Minh Trung ương do đồng chí Hoàng
Quốc Việt dẫn đầu, mang theo chính sách đại đoàn kết dân tộc của Bác Hồ vào phổ
biến, quán triệt trong toàn Nam Bộ. Nhạy bén tiếp thu chính sách đại đoàn kết
của Trung ương như ngọn gió mới thổi mát vào lòng người dân Nam Bộ, đồng chí Lê
Duẩn đã nhanh chóng vận dụng sách lược đại đoàn kết vào lực lượng các tôn giáo,
đảng phái và đội ngũ trí thức của Sài Gòn và Nam Bộ.
Kết quả, đối với tôn giáo và đảng
phái, ta đã tranh thủ được một số nhân vật cầm đầu giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo,
Phật giáo. Và với khẩu hiệu "tốt đạo, đẹp đời", ta đã vận động được
những người Công giáo yêu nước tham gia vào Mặt trận đoàn kết của dân tộc. Hằng
năm, lễ Noel được tổ chức vui vẻ trong vùng giải phóng ở Đồng Tháp Mười. Nhiều
cha cố như các cha Trần Quang Nghiêm, Nguyễn Bác Kính, Nguyễn Bá Sang, Nguyễn
Bá Luật... đã dẫn dắt con chiên tham gia suốt cuộc kháng chiến.
Tiêu biểu nhất là cụ Cao Triều Phát,
một điền chủ và là người đứng đầu 12 phái thống nhất đạo Cao Đài trong Mặt trận
Việt Minh đã ra bưng biền tham gia kháng chiến. Và đến cuối đời, cụ đã tự
nguyện làm đơn xin được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản vì đã giác
ngộ lý tưởng cách mạng của vị lãnh tụ lỗi lạc Hồ Chí Minh, cũng như cảm phục
tinh thần yêu nước và đức độ, tài năng của các chiến sĩ cộng sản, tiêu biểu như
đồng chí Bí thư Lê Duẩn và các đồng chí lãnh đạo Đảng lúc bấy giờ.
Đối với trí thức, ta đã thuyết phục
được nhiều nhà trí thức yêu nước có tên tuổi từ thành thị ra bưng biền tham gia
kháng chiến. Với sự chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn, ta đã niềm nở đón tiếp và
trọng dụng họ vào các chức vụ cao ngay từ khi mới thành lập Ủy ban Kháng chiến
- Hành chánh Nam Bộ cũng như về sau này; điển hình như các Luật sư Phạm Văn
Bạch, Phạm Ngọc Thuần, Nguyễn Thành Vĩnh, Kỹ sư Kha Vạn Cân, các Bác sĩ Phạm
Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Hưởng, các Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo, các
Giáo sư Ca Văn Thỉnh, Phạm Thiều cùng nhiều trí thức tên tuổi khác như: Lưu Hữu
Phước, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Trần Bửu Kiếm, Nguyễn Việt Nam, Ung Ngọc
Ky... Ngay cả một số quan chức làm việc cho Pháp lúc bấy giờ, tiêu biểu là cụ
Đốc phủ sứ Phan Văn Chương, Đô trưởng Sài Gòn cũng đã từ bỏ địa vị, tài sản và
tạm biệt gia đình để đi theo kháng chiến.
Đông đảo các nhà trí thức yêu nước ở
lại Sài Gòn bất chấp sự đe dọa và mua chuộc của Pháp, nhất quyết không theo
giặc, cũng đã được Xứ ủy Nam Bộ đánh giá cao và tạo điều kiện quan hệ với cách
mạng, ủng hộ kháng chiến. Sự kiện hàng trăm trí thức Sài Gòn - Gia Định ra
tuyên ngôn và ký kiến nghị đòi thực dân Pháp phải thương lượng với Chính phủ Hồ
Chí Minh để chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam cùng các sự kiện khác như cuộc biểu
tình 50 vạn người đòi đuổi tàu Mỹ, đám tang trò Trần Văn Ơn dưới hình thức một
cuộc biểu tình thị uy, đã làm sôi nổi phong trào đấu tranh của các tầng lớp trí
thức và nhân dân Sài Gòn chống đế quốc xâm lược.
Đặc biệt là các nhà trí thức có tên
tuổi, trước đây được Pháp cấp học bổng du học tại Pháp và tốt nghiệp xuất sắc,
đã nghe theo lời mời gọi của Bác Hồ, từ giã Paris hoa lệ để theo chân phái đoàn
Fontainebleau về nước, phục vụ cho cuộc kháng chiến của dân tộc như: Kỹ sư Trần
Đại Nghĩa, Bác sĩ Trần Hữu Tước... Sự kiện này đã tạo nên tiếng vang trong giới
trí thức ở Sài Gòn và thúc đẩy họ thêm hăng hái đi theo kháng chiến.
Nhiều nhà trí thức đi theo kháng
chiến trong thời kỳ ấy cũng đã được giác ngộ lý tưởng cộng sản và chịu ảnh
hưởng sâu sắc của các đồng chí lãnh đạo Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Đảng. Tiêu
biểu như Phạm Ngọc Thảo, một nhà trí thức "dân Tây", cùng với người
anh Phạm Ngọc Thuần từ Sài Gòn ra bưng biền, đã được đồng chí Lê Duẩn giác ngộ
và nhận nhiệm vụ trở về thành hoạt động bí mật trong hàng ngũ đầu não của địch,
đã trở thành một nhà tình báo chiến lược và hy sinh vẻ vang cho Tổ quốc.
Tôi còn nhớ rõ sự kiện đồng chí Lê
Duẩn trực tiếp thuyết phục Phạm Ngọc Thảo để giao nhiệm vụ đó. Nhiều đêm liền,
đồng chí Lê Duẩn gặp Phạm Ngọc Thảo ngay tại Văn phòng Xứ ủy Nam Bộ. Hai người
thức thâu đêm, nhỏ to tâm sự và bàn luận, giải quyết các vấn đề vướng mắc và
cuối cùng đồng chí Phạm Ngọc Thảo đã phấn khởi nhận lãnh sứ mệnh trọng đại của
Đảng và Tổ quốc giao phó.
Những đêm làm việc căng thẳng ấy, cứ đến khoảng hai,
ba giờ khuya, đồng chí Lê Duẩn mới được ngả lưng nhẹ nhàng trên một cái giường
cây nhỏ hẹp, cố nhắm mắt qua đêm. Đó cũng là kỷ niệm không thể nào quên của tôi
với anh Ba Duẩn trong những năm tháng gian khổ ở Văn phòng Xứ ủy Nam Bộ.
Đối với giai cấp nông dân, đồng chí
Lê Duẩn và Xứ ủy Nam Bộ cũng có một cái nhìn sáng suốt và quan điểm đúng đắn
ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến dân tộc. Nông dân Nam Bộ chiếm gần
90% dân số, có truyền thống yêu nước và chống giặc ngoại xâm từ bao đời.
Dưới
áp bức của chế độ thực dân, một bộ phận nông dân từ các nơi phải di cư, lui dần
về các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long để khai hoang lập ấp, vừa thể hiện tinh
thần bất khuất chống thực dân vừa đấu tranh với thiên nhiên để mưu tìm tự do và
sinh tồn.
Nhưng chạy đâu cũng không tránh khỏi
ách áp bức bóc lộ của thực dân cấu kết với phong kiến. Nam Bộ ruộng đất phì
nhiêu "cò bay thẳng cánh" nhưng người nông dân không có "mảnh
đất cắm dùi". Đất đai tập trung vào các điền chủ thực dân, các đại địa chủ
và tư sản mại bản, tay sai Pháp, lập thành những lãnh địa và những đồn điền lớn
ở miền Tây và các đồn điền cao su ở miền Đông Nam Bộ.
Sưu cao thuế nặng của
thực dân và tô tức của địa chủ đã đè nặng lên cuộc đời lam lũ của người dân bần
cùng, dồn nông dân vào bước đường cùng. Sự kiện "máu thắm đồng Nọc
Nạng" ở Nam Bộ chính là sự tự phát vùng lên của nông dân chống áp bức, bóc
lột của thực dân và phong kiến từ khi Đảng chưa ra đời.
Vào những năm 20 của thế
kỷ 20, sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công, chủ nghĩa cộng sản
đã thâm nhập vào Việt Nam và giai cấp công nhân từng bước được hình thành cùng
với sự liên minh của giai cấp nông dân ở nông thôn và một bộ phận của thành
phần tiểu tư sản trí thức ở thành thị. Do đặc điểm tình hình ở Nam Bộ, nông dân
- mà tuyệt đại đa số là bần, cố nông đã nhất tề vùng dậy dưới ngọn cờ của Đảng,
một lòng sống chết đi theo Đảng để chống lại phong kiến, thực dân và trở thành
lực lượng quan trọng của cách mạng ở nông thôn.
Khi cuộc khởi nghĩa Nam
kỳ 1940 bị thất bại, không chỉ hàng loạt chiến sĩ cộng sản bị hành quyết mà
hàng ngàn nông dân cũng bị tàn sát bắt bớ, tra tấn, tù đày, bị xỏ dây thép vào
bàn tay đưa xuống xà-lan nhận chìm giữa biển khơi. Nhìn qua những tấm gương đấu
tranh kiên cường, hy sinh bất khuất của những người cộng sản trước tòa án thực dân cũng như trên đoạn đầu đài người nông dân đi
theo Đảng đã được tôi luyện thêm về tinh thần yêu nước và giác ngộ lý tưởng
cộng sản.
Cho nên, trong những thời kỳ cách
mạng gặp khó khăn, dù bị địch khủng bố ác liệt, cơ sở Đảng và người đảng viên
vẫn trụ được ở nông thôn, sống trong sự đùm bọc và che chở của người nông dân.
Cách mạng Tháng Tám thành công, khắp các nơi kể cả ở thành thị, cũng đã dựa vào
sức mạnh của nông dân.
Sự kiện chỉ trong một buổi sáng, cả triệu người dân ở
ngoại thành Sài Gòn vũ trang tầm vông vạt nhọn và giáo mác, từ khắp các ngả
đường kéo vào nội thành biểu dương lực lượng, đã làm cho kẻ thù nao núng và tạo
nên thế lực vững chắc cho chính quyền cách mạng đang còn non trẻ lúc bấy giờ.
Nhận thức được bản chất vai trò của
nông dân Nam Bộ, đồng chí Lê Duẩn đã đề ra chủ trương đúng đắn và có tính sáng
tạo về sách lược cách mạng đối với giai cấp nông dân Nam Bộ, trên cơ sở nhận
định: Nông dân không chỉ là đồng minh mà đã cùng với giai cấp công nhân còn non
trẻ, tập hợp thành đội quân chủ lực của cách mạng trong thời kỳ kháng chiến lúc
bấy giờ.
Nông dân Nam Bộ được chính quyền cách mạng chia cho ruộng đất (mấy
trăm ngàn héc-ta), phấn khởi được đổi đời, ra sức thi đua sản xuất, đời sống
ngày càng khá lên, đóng thuế được nhiều hơn cho Nhà nước và ra sức góp công góp
sức cho cuộc kháng chiến ngày càng mạnh thêm.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ở vùng
giải phóng đã hình thành một xã hội mới hết sức tốt đẹp, không có tệ nạn xã hội
như cờ bạc, rượu chè, không có trộm cắp (ban đêm nhà không đóng cửa), mê tín dị
đoan được bài trừ, khắp nơi đều thực hiện đời sống mới về cưới hỏi, ma chay, ăn
chín uống chín, hố xí hai ngăn; việc chữa bệnh miễn phí bằng Đông Tây y kết
hợp; mọi người đều được học hành không mất tiền (trẻ em được học theo các cấp ở
các khu); phong trào bình dân học vụ và thanh toán nạn mù chữ cho người lớn
tuổi; các giới đồng bào đều được sinh hoạt hội họp và vui chơi lành mạnh, phong
trào văn nghệ phát triển rầm rộ khắp các làng xã. Đời sống vật chất và tinh
thần của người dân ở nông thôn được cải thiện một cách rõ rệt.
Cùng với việc đánh giá đúng đắn vai
trò của trí thức và nhân dân đô thị cũng như có sách lược cách mạng sáng tạo
đối với nông dân ở nông thôn, lãnh đạo Xứ ủy Nam Bộ lúc bấy giờ đã thực hiện
tốt phương châm "một tay nắm thành thị, một tay nắm nông thôn" đẩy
mạnh cuộc kháng chiến và cách mạng giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi cuối
cùng.
Cũng nhờ có quan điểm đúng đắn và
tin tưởng vào tấm lòng người nông dân đối với cách mạng nên căn cứ địa của Xứ
ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam đã được xây dựng ngay giữa vùng nông thôn
của Đồng Tháp Mười và miền Tây Nam Bộ - một căn cứ địa Việt Minh ở giữa lòng
dân, trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp xâm lược.
Chúng ta biết, Nam Bộ phần lớn là
đồng bằng, chỉ có ít rừng núi ở vùng bán sơn địa miền Đông nên việc xây dựng
căn cứ địa cho cơ quan đầu não phải dựa vào dân, chủ yếu dựa vào nông dân.
Nhận thức được điều đó, lãnh đạo Xứ
ủy Nam Bộ đã xây dựng căn cứ địa ngay trong lòng dân và không chủ trương lập
khu an toàn riêng tách ra khỏi sự che chở của nhân dân. Các cơ quan và cán bộ
lúc bấy giờ đều sống chung với dân, ăn ở và làm việc trong nhà đồng bào, được
bà con thương yêu và đùm bọc trong suốt chín năm kháng chiến. Tại khu căn cứ
Đồng Tháp Mười cũng như khu căn cứ vùng U Minh, miền Tây Nam Bộ, không có một
cơ quan nào bị địch đánh trúng và cán bộ nói chung đều được bảo vệ an toàn.
Nhân dân thật sự là "trăm tai nghìn mắt" của Đảng, bảo vệ vững chắc
cho Đảng đấu tranh chống kẻ thù.
Cho đến nay, khi chúng tôi về thăm lại căn cứ
cũ, bà con nhớ rõ từng nơi ở và làm việc của các đồng chí: Lê Duẩn, Lê Đức Thọ,
Phạm Hùng, Phạm Văn Bạch... và mọi người đều vui mừng lẫn xúc động nhớ lại
những kỷ niệm tốt đẹp của thời kỳ ấy.
Căn cứ địa cách mạng trong lòng dân
ở Nam Bộ nói chung có nhiều ý nghĩa, nhưng điều quan trọng là đã giác ngộ ý
thức cách mạng cho người dân, xây dựng con người mới, xã hội mới.
Suy nghĩ về một căn cứ địa được xây
dựng ngay giữa vùng nông thôn Nam Bộ, chúng ta càng cảm nhận sâu sắc về mối
quan hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng, đặc biệt là cảm nhận về chủ trương
đúng đắn của Xứ ủy Nam Bộ đối với giai cấp nông dân ở Nam Bộ từ những ngày đầu
của cuộc kháng chiến mà người lãnh đạo có tư tưởng sáng suốt đó là đồng chí Bí
thư Xứ ủy Lê Duẩn.
Trong thời kỳ đồng chí Lê Duẩn lãnh
đạo Xứ ủy Nam Bộ còn có một sự kiện đáng nhớ nữa, đó là việc tiếp phái đoàn
Trung ương Đảng vào chi viện cho chiến trường Nam Bộ. Vào khoảng đầu năm 1949,
Trung ương đã cử một đoàn cán bộ cấp cao cho đồng chí Lê Đức Thọ dẫn đầu, mang
theo ý kiến chỉ đạo cụ thể của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào làm
việc nhằm tăng cường năng lực lãnh đạo cho Xứ ủy Nam Bộ.
Đồng chí Lê Duẩn đã
chuẩn bị tư tưởng cho đoàn cán bộ lãnh đạo, phấn khởi đón tiếp phái đoàn Trung
ương như đón nhận một luồng sinh khí mới cho phong trào kháng chiến và cách
mạng trong toàn Nam Bộ.
Tôi còn nhớ trong cuộc họp cán bộ
lãnh đạo Xứ ủy, sau khi đồng chí Lê Đức Thọ truyền đạt ý kiến của Trung ương,
đánh giá và phân tích tình hình, nhiệm vụ cách mạng của Nam Bộ, đồng chí Bí thư
Lê Duẩn đã xúc động đứng lên thay mặt Xứ ủy, tiếp thu một cách nghiêm túc và
chân thành tự phê bình những thiếu sót của Xứ ủy, bên cạnh các ưu điểm đã được
Trung ương đánh giá cao.
Sau lời phát biểu của đồng chí Lê Duẩn, toàn thể đại
biểu trong cuộc họp đó đứng lên nhiệt liệt vỗ tay hoan nghênh, bày tỏ sự đồng
cảm và nhất trí cao của cán bộ lãnh đạo trong toàn Nam Bộ đối với Xứ ủy cũng
như tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh.
Bản thân tôi cũng đã lĩnh hội được những tư tưởng rất mới mẻ về lãnh đạo
của Trung ương Đảng và cảm thấy rất vui sướng lẫn xúc động về sự kiện có tính lịch
sử này, đồng thời càng có thêm tình cảm sâu sắc với anh Ba Duẩn.
Nhớ lại và cảm nhận qua năm tháng sự
kiện lịch sử trong thời kỳ Xứ ủy Nam Bộ lãnh đạo cuộc kháng chiến 9 năm chống
thực dân Pháp xâm lược, tôi càng thấm thía về sự thống nhất lãnh đạo của Đảng
và cảm phục về tài năng, đức độ của đồng chí Lê Duẩn trong vai trò người đứng
đầu Xứ ủy trong một thời kỳ cách mạng đầy khó khăn và phức tạp ở Nam Bộ.
Tư
tưởng cách mạng của đồng chí Lê Duẩn từ thực tiễn cuộc kháng chiến ở Nam Bộ còn
được phát triển và tỏa sáng hơn với đường lối cách mạng miền Nam trong thời kỳ
chống Mỹ, cứu nước. Mặt khác, tôi cũng cảm nhận sâu sắc về tinh thần yêu nước,
một lòng trung kiên với cách mạng của nhân dân ta, bao gồm các tầng lớp công
nhân, nông dân, trí thức và các thành phần dân tộc, tôn giáo tại Nam Bộ.
Lịch sử đã chứng minh, Đảng tổ chức
và lãnh đạo cuộc cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, với vai trò
của cán bộ lãnh đạo là yếu tố then chốt và nhân dân là người đã làm nên lịch sử
vẻ vang của dân tộc.
Phan Triêm
Nguyên Chánh văn phòng Xứ ủy Nam Bộ.
|