|
Dù di
chuyển khó khăn trên chiếc nạng gỗ nhưng ông Nguyễn Quốc Việt ngày ngày cặm cụi
từ gốc vườn này đến bờ ao khác. Ý chí và nghị lực đã giúp người thương binh 2/4
ở ấp Hải An, xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi vượt qua thời kỳ ác liệt của chiến
tranh cũng như những khó khăn trong cuộc chiến chống đói nghèo.
Sau khi
đưa tôi tham quan mô hình kinh tế của gia đình từ đầm nuôi tôm công nghiệp, tôm
sinh thái, mấy hồ nuôi rắn ri tượng, cần đước và mô hình ươm cua ốp lên cua gạch,
ông dẫn tôi lên khu nhà trên chỉ dành riêng cho việc trưng bài tượng, ảnh Bác và
những kỷ vật của thời chiến tranh.
Đột nhiện sự háo hức lúc nãy đã không còn mà
thay vào đó là một nét mặt man mác buồn, đôi mắt xa xăm nhìn vào bức ảnh chụp cùng
đồng đội năm 1967. Ký ức về một thời hoa lửa chợt ùa về…
Những cuộc đối đầu sinh tử
Ông tâm
sự: “Mỗi lần nhìn những kỷ vật này là tôi lại nhớ các đồng đội một thời nằm gai
nếm mật”.
 | | Thời gian rảnh, ông Việt lấy các bức tượng Bác ra lau chùi. Ông tâm sự: “Bác
luôn là kiêm chỉ nam cho mọi hành động của tôi”. | Ông vốn
là người con của đất Quảng Nam, sinh năm 1949 và vào sinh sống tại Đầm Dơi năm
1957. Tuy Cà Mau không phải là nơi chôn nhau cắt rốn nhưng ông đã gắn bó và sẵn
sàng hy sinh cho vùng đất này.
Năm 1961 từ lời kêu gọi của Bác Hồ: “Nhân dân ta
thà hy sinh tất cả, chớ không để mất nước, không chịu làm nô lệ”, cậu thanh
niên mới tròn 12 tuổi tham gia công tác giao liên ấp và xã. 2 năm sau (năm
1965) ông chính thức gia nhập chiến sĩ địa phương quận, huyện và làm chính trị
viên Trung đội du kích xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi.
“Khi được
chính thức cầm súng đối đầu với địch tôi tự nhủ mình phải quyết tử cho Tổ quốc
quyết sinh”, giọng ông đanh thép. Lời thề ấy đã theo ông trong thời gian 10 năm
cầm súng chiến đấu và cũng nhờ ý chí sắt thép ấy đã giúp ông vượt qua nhiều trận
đánh ác liệt, diệt được nhiều tên địch.
Có lần ông
đào lấy trái đạn 105 ly của địch bắn lép đem làm lại kíp nổ và gài mai phục làm
chết 6 tên và bị thương 6 tên, bẻ gãy cuộc càn quét của lính đồn Bàu Sen vào
ngày 26/7/1971. Hay như đêm 29/7/1971 ông và một đồng đội trực tiếp dẫn đường,
canh địch cho một số chiến sĩ và đặc công dùng mìn đánh phá trên 20 tấn vũ khí,
phương tiện chiến tranh của địch tại đồn Bàu Sen.
Kế tiếp là năm 1971, trực tiếp
chiến đấu giải cứu đồng đội của mình là Nguyễn Hải Thuận, khu đoàn ủy của ta bị
địch bao vây. Ngày 10/8/1971 Trung đoàn của ông kết hợp với Đoàn 962 phục kích
tại đồn Cái Bát sông Đầm Dơi, dùng B40 và B41 chặn đánh 6 chiếc tàu sắt của địch,
làm hư hỏng 5 chiếc, 170 tên địch chết và bị thương.
Ngừng lại,
nhìn xuống cái chân chỉ còn một nửa của mình, ông nói tiếp, “Đây mới là trận
đánh đáng nhớ nhất trong những lần đối đầu với địch. Ngày 20/8/1971 khi lực lượng
bảo an Cà Mau đổ quân xuống xã Tân Tiến khu vực Tây Nam Bộ đóng quân bắt được
chị Nguyễn Thị Sánh. Tôi và 2 đồng đội đã mai phục chặn đánh diệt được 3 tên địch,
giải cứu chị Sánh an toàn.
Thế nhưng, sau trận đánh tôi bị thương ở chân rất nặng,
nhiễm trùng dẫn đến hoại tử buộc phải cắt bỏ đoạn chân. Thời điểm đó là gì có
thuốc mê, chỉ có thuốc tê, anh em dùng cưa sắt để cưa chân. Vết thương nhiễm
trùng không có thuốc rửa phải sử dụng nước muối để ngâm trên 10 ngày, vừa đau vừa
ngứa nhưng phải cố cắn răn chịu đựng”.
Vườt lên thương tật
Mất đi một
chân, không thể trực tiếp tham gia chống giặc trên chiến trường, ông chuyển
sang cuộc chiến chống giặc dốt. Thực hiện lời dạy của Bác “thương binh tàn
nhưng không phế”, ông vận động bà con đóng góp tiền và cây lá xây dựng trường học
trên đồn Bàu Sen địch vừa rút và trực tiếp đứng lớp. Lúc ấy ở trường chỉ có ba
lớp. Khâm phục ý chí quật cường của người lính Nguyễn Quốc Việt, một nhà báo đã
viết tặng chú hai câu thơ:
“Một chân anh bỏ chiến
trường
Một chân anh đứng dạy trường Bàu Sen”
Tuy chỉ
còn một chân và 2 vết thương trên đầu nhưng ông trực tiếp ra tận chiến hào động
viên anh em, làm công tác chính trị tư tưởng, tổ chức du kích đánh đồn Bá Huế. Lực
lượng du kích chiến đấu dũng cảm, địch bỏ chạy. Ông tiếp tục công tác đến ngày
giải phóng. Năm 1976, ông được Đảng phân công làm Phó viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân huyện Đầm Dơi, đến năm 1991 thì nghỉ hưu.
Ông trầm
ngâm: “Có lẽ nhờ những năm tháng gian khổ và hiểm nguy ấy đã hun đúc cho con
người tôi một ý chí sắt thép sẵn sàng đối mặt với những khó khăn trong cuộc sống
sau này.
Sau khi
về hưu gia đình tôi gặp rất nhiều khó khăn, không tư liệu sản xuất, không lao động,
không vốn. Vợ tôi phải đi cấy mướn, làm thuê, còn tôi do bị cụt một chân nên phải
ngồi trên xuồng đi phát mướn và nhổ mạ…
”Nhưng làm cách nào có đựơc cơ ngơi như
ngày nay?", tôi buộc miệng hỏi. “Tất cả những gì có được hôm nay đều xuất phát từ
sự chịu thương, chịu khó, tìm hiểu kỹ thuật, tìm hiểu thị trường để sản xuất những
mặt hàng xã hội cần, tiết kiệm và biết điều tiết lao động”, ông tiết lộ.
 | | Không khuất phục trước thương tật, chú Nguyễn Quốc Việt
xây dựng được nhiều mô hình kinh tế mang lại hiệu quả cao | Từ một
thương binh với một chân còn lại và hai bàn tay trắng, xuất phát điểm gần như
con số không mà giờ đây trong tay ông là khối tài sản khổng lồ. Thành quả ấy khiến
nhiều người nể phục. Với 10 ha đất nuôi tôm sinh thái ở xã Nguyễn Huân, 2 đầm
tôm công nghiệp tại xã Tân Dân, nuôi tôm sinh thái, nuôi cua gạch, Doanh nghiệp
mua tôm nguyên liệu Vạn Lợi cho con trai quản lý tại xã Tân Dân, hằng năm nộp
ngân sách Nhà nước khoảng 2 tỷ đồng. Ông còn mở cửa hàng bán đồ may mặc tại chợ
Đầm Dơi. Mô hình đa, cây đa con trên cùng một diện tích mang lại cho ông nguồn
thu không nhỏ.
Tấm lòng người thương binh
Khi cuộc
sống khấm khá, ông không quên những đồng đội năm xưa đang còn chống chọi với
khó khăn, vất vả, giúp hộ nghèo ổn định cuộc sống. Một trong những trường hợp
nhờ tấm lòng chia sẻ của chú nay đã làm giàu là chị Kiều Minh Phụng. Chị tâm sự,
nhờ vào 2,6 ha đất mua giá thấp chỉ bằng ½ giá thị trường và trả dần cùng với 5
chỉ vàng ông cho mượn làm vốn mà đến nay gia đình chị đã có của ăn của để.
Ngoài
ra, ông Việt còn bỏ tiền ra mua tặng một số hộ nghèo khác trên địa bàn 1 máy Robin,
1 máy D6, 1 máy Honda,1 máy D22 để phục vụ đi lại làm ăn, cải thiện cuộc sống. Ông
còn đứng ra thành lập câu lạc bộ bảo vệ an ninh Tổ quốc và 6 tổ an ninh ở khu vực
dân cư; đóng góp trên 50 triệu đồng xây dựng cầu, lộ giao thông nông thôn; vận
động bà con trong ấp, xã xây dựng trên 14 km lộ bê-tông do Nhà nước và nhân dân
cùng làm trị giá trên 4,9 tỷ đồng; vận động bà con trong ấp đóng góp trên 52
triệu đồng giúp các hộ còn khó khăn làm vốn phát triển kinh tế gia đình.
Vượt qua
những thời khắc sinh tử trong chiến tranh cũng như những khó khăn trong cuộc sống
thời bình, với ông Nguyễn Quốc Việt, tất cả là nhờ kim chỉ nam từ những lời dạy
của Bác.
Cuộc
trò chuyện cùng ông tuy ngắn ngủi nhưng tôi cảm nhận được trong con người ông một
nghị lực phi thường vượt lên mọi hoàn cảnh và một “ngọn lửa” nhiệt tình, tâm
huyết cống hiến cho quê hương chưa bao giờ ngừng “cháy” trong tim./.
Bài
và ảnh: Nguyễn Phú
|