|
Cà Mau là cụm bến đầu tiên đón chuyến tàu đầu
tiên của con đường huyền thoại - Đường Hồ Chí Minh trên biển. Cà Mau cũng là
cụm bến có số lượng tàu và hàng (vũ
khí) vào nhiều nhất trong suốt hành trình con đường huyền thoại ấy.
Một trong
những người có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc mở cụm Bến Cà Mau và bảo
vệ tuyệt đối an toàn bến bãi, kho tàng cất giấu vũ khí là liệt sĩ, Anh hùng
LLVT nhân dân Chung Thành Châu (Sáu Toàn), mà anh em, đồng đội gọi bằng cái tên
thân thương “anh Sáu”, “chú Sáu”, nguyên
Đoàn phó Đoàn 962, kiêm Chính ủy Bến Cà Mau.
Năm 1961, Trung ương chỉ thị cho các
tỉnh: Bà Rịa, Bến Tre, Trà Vinh và Cà Mau tổ chức tàu thuyền ra Bắc thăm dò để
mở đường vận chuyển vũ khí vào miền Nam và chuẩn bị bến bãi để tiếp nhận hàng.
Đầu năm 1962, ông Chung Thành Châu (bấy giờ là Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban
Dân vận - Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Cà Mau), được Khu ủy Tây Nam Bộ điều
về làm Chính ủy đơn vị HN75 (tiền thân Đoàn 962) để chuẩn bị các điều kiện
thành lập Bến Cà Mau.
Vận động di dời dân, lập bến
 | | Tiết mục văn nghệ chào mừng kỷ niệm 50 năm
Đường Hồ Chí Minh trên biển. Ảnh:
CHÍ CÔNG | Từ cửa Bồ Đề đến Kiến Vàng, Vàm
Lũng, Tân Ân hơn 60 km, với hơn 10 cửa sông thông ra biển, thuận lợi cho tàu đi
vào, được chọn làm bến chính (Bến Vàm Lũng, Kiến Vàng) và lấy khu vực sông
Đường Đào, Biện Nhạn, Chim Đẻ, Tắc Ông Thầy, Cạnh Đền... làm tổng kho. Khu ủy
giao nhiệm vụ cho tỉnh Cà Mau trong vòng 9 tháng phải di dời dân ra khỏi khu
vực.
Thế nhưng, một điều thật bất ngờ, kỳ diệu là chỉ trong vòng chưa đầy 3
tháng (từ tháng 7-9) ông Chung Thành Châu đã hoàn thành nhiệm vụ. Tháng 9/1962,
Bến Cà Mau báo cáo với Trung ương sẵn sàng tiếp nhận hàng và được Trung ương
quyết định cho đón nhận chuyến tàu đầu tiên tại Vàm Lũng.
Ngày 19/9/1962, Đoàn 962 thành lập,
ông Chung Thành Châu được bổ nhiệm làm Đoàn phó, kiêm Chính ủy Bến Cà Mau.
Đại tá Nguyễn Hoàng Hùng (nguyên Phó
Hiệu trưởng Trường Quân sự địa phương, người có mặt ở cụm Bến Cà Mau từ những
ngày đầu thành lập) kể lại: “Bấy giờ ở khu vực di dời có hơn 800 hộ dân sinh
sống bằng các nghề đáy, nò, đăng, vó... Đành rằng dân mình có lòng yêu nước, có
tinh thần cách mạng, nhưng việc di dời là ảnh hưởng đến chén cơm, manh áo của
bà con. Di dời 1-2 hộ dân đã khó, đằng này đến gần cả ngàn hộ là một việc làm
không hề đơn giản.
Thế mà chú Sáu đã làm được. Qua sự tuyên truyền, vận động
của chú Sáu, không những tất cả bà con đều vui vẻ di dời mà còn nhiệt tình giúp
đỡ cách mạng về thuốc men, lương thực, thực phẩm và đặc biệt giữ bí mật một
cách tuyệt đối, an toàn”.
Đại tá Hoàng Hùng cũng cho biết, bấy
giờ ở khu vực từ Khai Long, Tân Ân, Cây Tàng... kho tàng của ta dầy đặc, toàn
bộ là kho lộ thiên. Ta cứ dùng cây đước chất hình chữ nhật, chất nhiều lớp, lớp
trên cùng (cao hơn mặt nước vài tấc) ta chất cây liền lại làm sàn và để vũ khí
lên (dân gian gọi là “chất chuồng heo”), sau đó đậy bằng những tấm cao su và
cất mái lá che bên trên. Lúc cao điểm, những nơi này có tới cả ngàn tấn vũ khí
được cất giữ. Xung quanh vành đai không hề có hàng rào kẽm gai, bộ đội canh gác
ở xen kẽ trong dân.
Có những kho tàng chỉ cách Chi khu
Năm Căn của giặc chưa đầy 10 km đường chim bay. “Chắc chắn một điều là các kho
tàng, bến bãi của ta người dân hoàn toàn biết hết. Nhưng thật là một kỳ tích,
tất cả đều được bảo vệ tuyệt đối an toàn, không hề mất mát, không một lần bị
địch phát hiện, đánh phá.
Trong suốt thời gian chú Sáu làm Chính ủy (từ năm
1962-1968), tuyệt đối không hề có một cán bộ, chiến sĩ nào dao động, bi quan,
bỏ ngũ; không một người dân nào đi khai báo, đi làm chỉ điểm cho giặc. Tôi cho
rằng, nếu không làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ,
chiến sĩ; không làm tốt công tác vận động quần chúng, thì mọi việc không hề đơn
giản”, ông Hùng khẳng định.
“Chú Sáu có kiểu làm công tác chính
trị, công tác quần chúng rất riêng. Ông không dùng từ ngữ, lý luận cao xa mà
bằng thực tiễn cuộc sống, bằng những lời lẽ hết sức gần gũi, mộc mạc, thấu
hiểu, cảm thông và chia sẻ. Vì vậy, đối tượng nghe tự chuyển biến trong nhận
thức và hành động.
Có nhiều trường hợp anh em bị thủ trưởng trực tiếp chê
trách, nặng nhẹ, họ buồn, bất mãn định bỏ ngũ. Khi ông biết, gọi tới nói
chuyện, phân tích cái đúng, cái sai, cái chung, cái riêng… sau đó anh em tự
giác ở lại.
Ở ông còn có một điều rất lạ là
dường như người dân nào khi biết ông đều để lại một tình cảm đặc biệt. Tôi đi
công tác ra dân, cứ mấy ngày không thấy chú Sáu là họ hỏi: “Ông Sáu đâu, lúc
này ít thấy ổng vậy?”, “Ổng khỏe không?”, “Ổng còn công tác vùng mình
không?”...
Được người dân dành tình cảm đặc biệt đối với thủ trưởng mình như
thế, tôi cũng thấy hãnh diện và càng vững niềm tin, hăng hái làm nhiệm vụ”, Đại
tá Nguyễn Hoàng Hùng tự hào.
Không chỉ bảo vệ an toàn kho tàng,
bến bãi, ông còn chỉ đạo tổ chức tiếp nhận, bốc dở hàng một cách linh hoạt,
sáng tạo và hiệu quả; tổ chức đón tiếp, chăm sóc chu đáo cán bộ, chiến sĩ của
các tàu mỗi lần cặp bến, để anh em nhanh chóng phục hồi sức khỏe tiếp tục làm
nhiệm vụ.
“Anh sáu”, “chú sáu” trong lòng đồng
chí, đồng đội
Trong quá trình thu thập tư liệu để
viết về ông Chung Thành Châu, tôi đã lần dò tìm được khá nhiều những đồng chí,
đồng đội một thời công tác cùng ông. Và một điều hết sức thú vị là tất cả họ
đều nhắc về “anh Sáu”, “chú Sáu” bằng một tình cảm hết sức thân thương, kính
trọng và ngưỡng mộ.
Bà Phạm Kim Nhãn (Năm Nga), nguyên
Giám đốc Trung tâm Y tế TP Cà Mau, nhớ lại: “Hồi ấy, tôi được giao làm giao
liên đặc biệt cho Huyện ủy Cái Nước. Lần đó, tôi xuống rừng Rạch Vọp ở Cả Ráng,
thấy anh Sáu đang đốn cây, mắt bụp hết. Anh bảo, đốn cây cất nhà hội nghị, do không
biết cây giá có mủ độc, đốn nhầm, bị văng mủ lên mắt nên ra nông nổi vậy.
Lúc
đó, anh là Phó Bí thư Huyện ủy Cái Nước mà vẫn lăn xả lao động như vậy. Về sau,
tôi có nhiều điều kiện công tác chung, thấy anh đúng là một cán bộ lãnh đạo vừa
giỏi vừa hết sức chân tình, gần gũi, đáng kính nể. Sau này, vợ chồng tôi hay có
chuyện hục hặc, anh Sáu kêu lại hỏi thăm và khuyên nhủ đủ điều. Nhờ vậy mà
chúng tôi hàn gắn được…”.
Ông Nguyễn Nam Trấn, nguyên Trưởng
Tiểu Ban thông tấn báo chí Cà Mau, kể: “Sau đồng khởi năm 1960, tôi được điều
về Ban Thanh vận tỉnh Cà Mau, anh Sáu lúc ấy phụ trách Ban Dân vận - Mặt trận
tỉnh.
Chúng tôi có điều kiện gần gũi trong công việc, trong sinh hoạt hằng
ngày. Anh Sáu có đặc điểm là xem các kế hoạch, công văn rất kỹ, sửa chữa từng câu,
từng chữ. Anh hiền từ, đạo đức, nói năng nhẹ nhàng, tình cảm, ai cũng thương
mến.
Anh dạy bảo anh em cán bộ từ việc ăn ở, phát ngôn, cư xử… Trong điều kiện
thiếu thốn bấy giờ mà khi anh bệnh, được chế độ bồi dưỡng, anh đều lấy chia hết
cho anh em.
Anh nói trước đám đông thì rất
thuyết phục, bởi anh có cách nói rất riêng, gần gũi lắm. Anh cũng thường nhắc
nhở chúng tôi: “Chức đi đôi với quyền. Mình có chức, cố gắng làm tròn trọng
trách được giao phó. Còn quyền là phải vì dân, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân. Chức quyền cũng như cái áo, mặc vào rồi cởi ra, đừng ỷ lại, cậy quyền cậy
thế mà ức hiếp quần chúng, mà làm những điều không đúng”. Tính ảnh rất thẳng
thắn, ghét nịnh bợ, trong cuộc họp, dù lãnh đạo tỉnh sai, ảnh cũng mạnh dạn góp
ý…
Đầu năm 1962, anh Sáu được lệnh
chuyển công tác sang đơn vị HN75, anh đi rồi, chúng tôi thấy trống trải, hụt
hẫng cả một thời gian dài. Rồi sau này, khi hay tin anh hy sinh, cả cơ quan, ai
cũng khóc…”.
Đại tá Khưu Ngọc Bảy, nguyên Trung
đoàn trưởng Trung đoàn 962 (lúc ấy làm công tác tham mưu cho đơn vị), có nhận
xét: “Thường đối với người làm công tác chính trị, cấp dưới “ngán” lắm, bởi hay
nhận xét chuyện này, chuyện nọ. Nhưng anh Sáu thì lại khác, tất cả cán bộ,
chiến sĩ đều quý mến anh. Anh thấu hiểu và sẻ chia cả những nỗi niềm, tâm tư,
tình cảm của cán bộ, chiến sĩ”.
Cũng theo Đại tá Khưu Ngọc Bảy, một
điều đặc biệt ở ông Chung Thành Châu nữa là, chỗ nào khó khăn, nguy hiểm là ông
có mặt. Một lần, theo yêu cầu nhiệm vụ, Bến Cà Mau tổ chức 1 đại đội vận tải
đường bộ để vận chuyển vũ khí lên tuyến trên. Đoạn đường từ xã An Trạch (huyện
Giá Rai) lên huyện Kế Sách (tỉnh Sóc Trăng) phải qua 4 con lộ do địch kiểm soát
nghiêm ngặt và nhiều đồn bót.
Ông đánh giá, đây là tuyến đường vận chuyển rất
khó khăn, nguy hiểm, nhiều tình huống phức tạp có thể xảy ra, và ông nhất quyết
cùng đi với đại đội. Với tài năng về quân sự, lòng dũng cảm, mưu trí, sáng tạo
của ông, lần vận chuyển ấy đã thành công. Sau đó, ông tổ chức họp rút kinh
nghiệm để đại đội thực hiện tốt những chuyến tiếp theo.
Lần khác, vào đầu năm 1967, con tàu
69 rời Bến Vàm Lũng để trở ra miền Bắc. Khi ra đến biển khơi bị đụng địch, tàu
vừa chiến đấu vừa quay trở lại bến. Ông nhanh chóng có mặt, chỉ đạo bến sẵn
sàng chiến đấu tiếp ứng, đón tàu quay lại. Bấy giờ, do cuộc chiến đấu không cân
sức, tàu 69 có 1 đồng chí hy sinh, 5 đồng chí bị thương, tàu bị trúng hơn 100
vết đạn, ông chỉ đạo cấp tốc giải quyết tử sĩ, cấp cứu thương binh.
 | | Các cựu binh Đoàn 962 tưởng niệm đồng đội hy
sinh khi đang làm nhiệm vụ trên biển tại cửa Vàm Lũng, huyện Ngọc Hiển. | Nhiều ý kiến đề nghị ông về vị trí
sở chỉ huy, ở đây vô cùng nguy hiểm, nhưng ông tuyên bố dõng dạc: “Trận địa của
tôi bây giờ là ở đây. Vị trí chiến đấu của tôi bây giờ là ở đây. Chúng ta phải
quyết bảo vệ cho được con tàu”. Và sau đó, với sự chỉ đạo chiến đấu tài giỏi
của ông, địch bị đẩy lùi, con tàu được đưa về ngụy trang, cất giấu.
Khi địch mở chiến dịch “Sóng tình
thương", rồi “Hạm đội nhỏ trên sông”, đánh phá vùng căn cứ, ông cùng với
ban lãnh đạo chỉ đạo đơn vị kết hợp với một số đơn vị bạn và lực lượng vũ trang
các huyện đánh địch hàng trăm trận, bắn chìm và cháy hàng trăm tàu địch, đánh
bại âm mưu, chiến thuật của chúng.
Năm 1968, khi chiến dịch Mậu Thân
bắt đầu, Quân khu điều ông và 1 tiểu đoàn tham gia 2 đợt đánh vào thị xã Cà
Mau. Ông được phân công làm Phó Ban Chỉ huy thống nhất Mặt trận phía Nam Cà
Mau, vừa là Chính ủy, chỉ huy đơn vị đánh thọc sâu vào thị xã Cà Mau. Đợt 2 của
chiến dịch diễn ra rất ác liệt, đội hình chiến đấu bị cắt đứt, nhiều cán bộ,
chiến sĩ hy sinh và bị thương.
Bất chấp làn tên mũi đạn, ông vẫn bám trận địa,
nhanh chóng giải quyết thương binh, tử sĩ, củng cố lực lượng, tổ chức đánh phản
kích mạnh vào đội hình của địch. Nhờ tài chỉ huy tài giỏi, mưu trí, sáng suốt
của ông, đơn vị giành được thế chủ động, địch bị đẩy lùi từng bước.
Trên đường tiến công từ kinh Lễ
Quyền ra phường 8, thị xã Cà Mau, ông bị trúng đạn và anh dũng hy sinh. Lúc ấy
là chiều ngày 5/3/1968.
Đồng đội ông kể lại rằng, đêm hành
quân tiếp cận thị xã Cà Mau, ông có đi ngang hậu đất gia đình. Anh em bảo ghé
thăm vợ con, do gấp rút và để giữ tuyệt đối bí mật nên ông bảo: “Mai mốt chiến
thắng rồi mặc sức mà thăm”. Nhưng rồi ông đã mãi không về.
Với
thành tích đóng góp to lớn của ông Chung Thành Châu cho sự nghiệp giải phóng
đất nước, ngày 22/11/2011, Chủ tịch nước ký quyết định truy tặng ông danh hiệu
Anh hùng LLVT nhân dân. Ngày 27/7 năm nay, tỉnh Cà Mau tổ chức lễ trao tặng
danh hiệu cao quý ấy./.
Bài
và ảnh: Trang Anh
|