|
Đồng chí Lê Duẩn thuộc lớp chiến sĩ
cận vệ đầu tiên của Đảng. Anh bị đế quốc Pháp bắt giam ở Côn Đảo lần đầu tiên
vào năm 1931, ngay từ những ngày mới thành lập Đảng.
Đến năm 1936, do thắng lợi
của Mặt trận Bình dân (Liên minh giữa Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản) bên Pháp,
anh được thả ra khỏi nhà tù Côn Đảo và lập tức tiếp tục hoạt động, lãnh đạo Xứ
ủy Trung kỳ.
Trong thời kỳ đầu cuộc kháng chiến
tại Nam Bộ, tuy về mặt chính quyền, anh chỉ giữ chức Trưởng phòng Dân quân Nam
Bộ, một vị trí rất khiêm nhường không có nhiều quyền hành, nhưng anh đã lãnh
đạo cuộc kháng chiến tại đây với sự sáng suốt đầy thuyết phục.
Những nhân sĩ,
trí thức kháng chiến có tiếng tăm ở Nam Bộ luôn ca ngợi anh và hết sức tín
nhiệm anh, đặt cho anh biệt danh "Ông 200 bougies" để ca ngợi sự sáng
suốt của anh cũng giống như ngọn đèn 200 nến.
Năm 1940, anh bị địch bắt lần thứ
hai và lại bị đày đi côn Đảo cho đến năm 1945, khi Cách mạng Tháng Tám thành
công. Đánh giá cao trình độ sáng suốt, kinh nghiệm dày dạn cùng với sự hiểu
biết sâu sắc về Nam Bộ của đồng chí Lê Duẩn, Trung ương đã chỉ định anh làm Bí
thư Xứ ủy Nam Bộ thời kỳ này.
Trên cương vị lãnh đạo, anh đã thể
hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh một cách sáng
tạo, phát huy được tinh thần yêu nước, trình độ học vấn cao của đội ngũ trí
thức Nam Bộ.
Vì thế, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, lãnh đạo Ủy ban
Kháng chiến - Hành chánh Nam Bộ có nhiều nhân sĩ, trí thức, chẳng hạn như lãnh
đạo Sở Công an Nam Bộ là Luật sư Diệp Ba, còn đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên
Thường vụ Xứ ủy, cũng chỉ giữ vai trò Phó Giám đốc. những nhân sĩ, trí thức này
đã tự giác theo cách mạng, theo Đảng, phát huy tốt năng lực chuyên môn của
mình.
Dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy mà đứng
đầu là anh Lê Duẩn, chính sách cải cách ruộng rất ở miền Nam lúc đó tiến hành
rất hợp tình, hợp lý, chỉ tịch thu ruộng đất của bọn Việt gian để chia cho nông
dân, ruộng đất của địa chủ vắng mặt thì tạm giao cho dân canh tác chứ không
tịch thu.
Đối với địa chủ tham gia
kháng chiến thì vận động họ hiến điền một cách tự nguyện. Chính sách này được
nhân dân đồng tình ủng hộ, tầng lớp địa chủ cũng thấy thỏa đáng. Do đó, cuộc
kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ đã thể hiện chính nghĩa và phát huy sức mạnh
đại đoàn kết dân tộc.
Thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước là một giai đoạn cực kỳ khó khăn và phức tạp, nhưng nhờ sự lãnh
đạo của anh Lê Duẩn mà niềm tin của cán bộ, đảng viên Nam Bộ được củng cố.
Vốn là người lãnh đạo nổi tiếng ở
Nam Bộ nên anh Ba Duẩn được rất nhiều người biết đến dù chưa một lần gặp mặt,
vì vậy, việc bảo vệ an toàn cho anh rất khó khăn. Một lần, cán bộ ta đưa anh
đến ở tại nhà một cơ sở dưới lớp ngụy trang là một cán bộ cách mạng bình
thường, nhưng cơ sở nhận ra ngay đây là anh Lê Duẩn, vì trước đó đã nhìn thấy
hình ảnh anh đăng trên một tờ báo kháng chiến, thế là phải dời đi ngay.
Một lần
khác, do thấy anh em có thái độ rất nể trọng đối với anh nên những người ở cơ
sở hỏi: "Có phải Bác Hồ không?", vì thời gian này anh để râu dài ngụy
trang. Người ta nhận ra anh là Lê Duẩn đã đủ phức tạp, nay lại đồn anh là Bác
Hồ càng nguy hiểm hơn, do vậy, một lần nữa lại phải đưa anh đi nơi khác.
Các đồng chí lãnh đạo địa phương
thông thạo địa bàn, nắm rõ người dân nên luôn bố trí chỗ ăn, ở cũng như lo việc
bảo vệ cho anh rất chặt chẽ. Hơn nữa, bản thân anh là người giàu kinh nghiệm,
vào tù ra khám nhiều lần nên tuân thủ các nguyên tắc hoạt động bí mật rất
nghiêm túc. Vì thế, chúng tôi bắt buộc thực hiện đúng nguyên tắc đã đề ra.
Chẳng hạn như tôi chỉ đến làm việc
với anh khi trời đã tối và luôn ra đi khi trời chưa sáng hẳn. Trong lúc ở lại,
ngoài việc trao đổi tình hình và đưa ra chỉ thị, anh thường hay kể lại những
câu chuyện, những sự kiện có tính chất giáo dục để nâng cao trình độ của chúng
tôi.
Thời kỳ này tôi thường xuyên báo cáo với anh về tình hình của địch, những
mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ Pháp, Mỹ và tay sai. Phần anh, luôn nhắc đi
nhắc lại rằng, việc nội bộ địch mâu thuẫn với nhau tuy có lợi cho ta, nhưng nếu
chúng ta không có lực lượng, không có khả năng quân sự thì cũng chẳng khai thác
được gì. Anh rất băn khoăn về việc này.
Tình hình ngày càng khó khăn, khiến
anh Ba Duẩn phải di chuyển qua Bến Tre, nhưng nơi này an ninh cũng không bảo
đảm nên Xứ ủy lại đưa anh lên Sài Gòn. Sự an toàn của anh ngày càng bị đe dọa,
cơ quan Xứ ủy bị bể bạc, cuối cùng anh em phải bố trí đưa anh sang Campuchia.
Giữa năm 1957, anh được Trung ương điều động về Hà Nội để nhận nhiệm vụ mới.
Trong suốt quá trình lịch sử của
Đảng, cũng như trong sự nghiệp kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ, cứu nước
của nhân dân Việt Nam, anh Lê Duẩn trong nhiều cương vị lãnh đạo cao cấp khác
nhau, với tinh thần cách mạng triệt để, ý chí tiến công quyết liệt, đã có công
lao to lớn đóng góp vào thắng lợi vẻ vang, đặc biệt là tạo ra những bước ngoặt
lịch sử:
- Với cương vị Ủy viên Ban Thường vụ
Trung ương, anh đã góp phần xây dựng cương lĩnh phản đế năm 1939 thay cho cương
lĩnh dân chủ.
- Trong thời kỳ đen tối từ năm 1954
đến năm 1959, do chủ trương đơn thuần đấu tranh chính trị dẫn đến tình hình bế
tắc, anh đã viết Đề cương cách mạng miền Nam, phân tích rõ rằng trong khi kẻ
địch dùng bạo lực phản cách mạng để tiêu diệt cách mạng thì chúng ta phải dùng
bạo lực cách mạng để chống lại chúng.
Tuy nhiên, trong thời kỳ này, do xu thế
hòa bình trong phe xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ đang chiếm ưu thế nên cuối cùng
chủ trương của anh chưa thể thực hiện được ngay.
Anh chính là người chỉ đạo tổ chức
lực lượng vũ trang mai phục ở miền Đông Nam Bộ và vùng ba biên giới. Lực lượng
này đã xây dựng căn cứ địa cách mạng, sau này là căn cứ kháng chiến chiến lược
ở Chiến khu Đ (nay là Bình Dương, Bình Phước), Chiến khu Dương Minh Châu (Tây
Ninh).
Chính tại nơi đây đầu năm 1960, để thực hiện Nghị quyết 15 của Trung
ương Đảng (khóa II), lực lượng ta đã tấn công vào Trung đoàn 32, thuộc Sư đoàn
21 ngụy, tước được 2/3 (hai phần ba) vũ khí của chúng. Đây là một trong những
phát pháo hiệu mở đầu cho thời kỳ kết hợp đấu tranh bằng "3 quả đấm":
Chính trị, vũ trang và binh vận.
Nghị quyết 15 năm 1959 của Trung
ương Đảng (khóa II) cho phép ta kết hợp vũ trang với đấu tranh chính trị - ra
đời vào đầu năm 1959, có sự đóng góp rất to lớn và quyết định của anh. Với
cương vị lãnh đạo của anh lúc bấy giờ trong Đảng, không có sự thông hiểu sâu
sắc tình hình miền Nam như anh, thì sự ra đời của Nghị quyết 15 chủ trương cho
phép hoạt động vũ trang, Đồng khởi ở miền Nam cũng gặp rất nhiều trắc trở.
Tinh thần cách mạng triệt để và ý
chí tiến công quyết liệt đã được thể hiện trong những chiến dịch quyết định do
Bộ Chính trị chủ trương mà người đứng đầu lúc bấy giờ là anh Lê Duẩn. Đó là
cuộc tập kích chiến lược Xuân Mậu Thân năm 1968, đánh bại ý chí xâm lược của đế
quốc Mỹ, buộc Mỹ và tay sai phải ngồi vào bàn đàm phán, ký Hiệp định Pa-ri vào
ngày 27/1/1973, tạo ra một bước ngoặt lịch sử dẫn đến quyết định tiến hành
Chiến dịch Hồ Chí Minh vào đầu năm 1975, đúng như lời Bác Hồ đã dạy: "Đánh
cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước./.
Mai Chí Thọ
Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng
Bộ Nội vụ.
|