Thứ tư, ngày 22/10/2014
  Liên hệ Sơ đổ Giới thiệu
PHÓNG SỰ - KÝ SỰ
Nghề câu cá
Cập nhật ngày: 01/08/2010

Ở đất nước ta, vùng miền  nào cũng có nghề câu cá. Nhưng câu cá mà đạt đến trình độ "thâm hậu" và biến hóa "thiên hình vạn trạng" như ở đồng bằng Nam Bộ thì chắc là hiếm lắm!

Trong sách "Cá tính miền Nam" của Nhà văn Sơn Nam có ghi: "… Nghề nhắp cá lóc là do người Khmer Nam Bộ sáng tạo". Quả đúng như thế! Hồi tôi còn nhỏ, nhà ở gần sóc Khmer, khi mưa già một chút, lúa trên đồng xanh um là tôi thấy rất nhiều ông già Khmer ra đồng nhắp cá lóc. T

rong khi đó, chỉ có vài anh thanh niên người Kinh tập tễnh làm theo, nhưng câu không được nhiều cá lắm! Sau này, nghề nhắp cá lóc được truyền cho nhiều người và đó là một nghề có ma lực, đã dính vào thì rất khó bỏ.

Ngày nay, mặc dù cá mắm không còn nhiều như trước, vậy mà ở thị xã Bạc Liêu nhỏ bé này lại có đến hàng chục người đang làm nghề nhắp cá lóc. Có người mách cho tôi biết ông Đào Văn Hai, ở khóm Trà Kha A, phường 8, là một cao thủ nhắp cá lóc. Từ nhỏ đến giờ, ông Hai (đã 53 tuổi) chỉ làm một nghề duy nhất là nhắp cá lóc. Ở ngoài chợ, người ta bán một lưỡi câu nhắp có 2.000 đồng, nhưng lưỡi câu do ông Hai rèn uốn bán đến 30.000 đồng. Vậy mà rèn bao nhiêu thì cánh nhắp cá mua hết bấy nhiêu…

 
 MH:  MT
Tôi mò đến nhà ông Hai. Bà vợ ông Hai cao lêu khêu, gầy đét, trả lời với tôi bằng giọng lạnh như tiền: "Ổng đi câu từ hừng đông rồi! Nhà này có việc gì của ổng đâu mà ổng ở!". Tôi đến hai lần đều không diện kiến được "cao thủ" nên phải băng đồng đi tìm theo sự hướng dẫn của cô con gái ông.

Gặp tôi, ông cười hì hì như thanh minh: "Tôi ở nhà chịu không nổi. Đêm nằm ngủ mơ màng nghe tiếng cá lóc táp bôm bốp… Thế là hừng đông, "ngứa nghề", phải vác cần ra ruộng. Mỗi lần cá lóc táp mồi, giật lên một con cá lóc đen trũi cả ký lô, sướng phát điên lên!".

Ông Hai cũng giống như bà vợ, tướng tá nông dân nhưng lại để mái tóc dài rất nghệ sĩ. Tôi lẩm bẩm: "Tướng tá này mà đã mê cái gì thì mê đến phát khiếp". Tôi hỏi: "Mỗi ngày ông nhắp được bao nhiêu cá?". Như có người để tâm sự, ông Hai bắt đầu kể:

"Cũng tùy, có buổi 5-10 ký cá, có bữa chẳng có con nào, bởi cá lóc bây giờ cạn kiệt rồi. Ao đìa trong thị xã người ta san lấp, làm công trình hết. Hơn nữa, nhắp cá lóc không phải dễ, người nhắp giỏi phải có cần nhắp "tuyệt chiêu".

Đó là một chiếc cần câu dài 4-5 thước, ngọn câu phải dịu, đế câu phải có nạng hai để khi tỳ vào chân khỏi đau. Đặc biệt là lưỡi câu nhắp phải uốn có kỹ thuật. Kỹ thuật này khó nói lắm, chỉ có những người trong nghề câu lâu năm mới làm được. Lưỡi câu mua ở chợ, khi câu, mặc dù cá ăn rồi, nhưng giật bắt được 50% cá là quá nhiều. Còn lưỡi câu tôi làm bảo đảm trăm con thoát chừng một con.

Mấy tay xoàng xoàng đi nhắp có mùa, mùa khô thì họ ở không, mùa gió chướng họ lại bảo cá "ê răng" không ăn câu. Riêng tôi thì nhắp cá quanh năm. Mùa mưa người ta nhắp cá tràn lan trên đồng, nhưng tôi thì có những đường nước, đoạn kinh "truyền thống". Có những buổi nhắp cá mê đến quên ăn cơm. Tôi chỉ ngồi một chỗ rê cần câu tới lui một tiếng đồng hồ là giật được hơn chục con cá lóc.

Nghề này mà đi ăn trộm đìa là bảo đảm ngon lành. Buổi tối, tôi chỉ cần đứng trước "họng" đìa mà câu hai đêm thì cái đìa ấy sẽ không còn một con cá lóc. Mùa khô tôi nhắp cá ở các ao làng, các hồ trong thị xã mà Nhà nước lấy đất đắp công trình. Cá lóc hay lắm, chỗ nào có ao vũng là có mặt nó. Có những cái ao nằm cạnh cơ quan Nhà nước, người ta cứ tưởng không có cá, nhưng tôi đến nhắp 3-4 đêm là đem về vài chục ký cá. Còn mùa gió chướng thì tôi đi nhắp ổ cá. N

gười ta nói cá lóc đẻ vào mùa sa mưa, nhưng thực tế, cá lóc đẻ quanh năm. Mỗi lần đẻ, nó đến gần bờ đìa cạp một vùng đất lõm cỡ cái thau nhỏ, sau đó, cắn cỏ trải lên rồi đẻ trứng. Mỗi ổ cá bao giờ cũng có con đực và con cái canh chừng. Khi cá lóc đẻ, tính tình rất hung dữ, ta rê mồi câu bằng nhái chỉ qua 2-3 đường câu là chúng táp liền. Một con dính câu thì con còn lại thay thế canh chừng ổ trứng, lát sau trở lại câu tiếp là chắc chắn sẽ bắt được luôn. Số trứng này sau đó bị cá sặt, cá bã trầu… vào ăn hết.

Thế nhưng, 5-7 ngày sau, sẽ có một đôi cá khác đến chiếm ổ đẻ trứng. Mấy chú biết không, cái ổ cá gần góc chùa cạnh nhà tôi, trong một năm tôi nhắp gần trăm con cá lóc. Những người nhắp giỏi chỉ cần phát hiện được 5-10 ổ cá là có cá ăn suốt mùa gió chướng".

Ông Hai ra hiệu cho chúng tôi yên lặng. Sau đó, tôi nghe thấy tiếng cá lóc táp cái "bốp" và mặt nước dợn sóng đùng đùng. Ông Hai giật lên không muốn nổi một con cá lóc to cỡ bắp chân. Tôi cũng cảm thấy sung sướng đến phát điên như ông Hai.

Ông Hai rủ tôi và Quang Hùng qua cái chòi nằm giữ ruộng, ông nói: "Tôi và mấy chú lần đầu tiên được gặp, mình nhậu xã giao một cái. Đây là chòi rẫy của bạn tôi nhưng nó bỏ đi làm thợ hồ rồi". Căn chòi lá trống hoác, chỉ có một tấm phản bằng cây gòn. Ông Hai róc lá chuối tươi bó kín con cá, xỏ vào miệng nó một thanh tre, cặm xuống đất rồi chất rơm đốt cá. Tôi sợ con cá này to quá, nướng không chín ruột. Thế nhưng, khi ông Hai tách cá ra thì ruột cá khô queo, không còn một tí máu và lửa chỉ làm cháy hết phần vảy cá, da cá vàng nghệ như heo quay. Kiểu nướng cá lóc này đúng là của bậc cao thủ.

Ông Hai chặt mấy tàu chuối xanh trải lên mặt phản, một tàu chuối thì đặt cá, một tàu khác lại đặt dăm cọng rau cần nước, mấy đọt chùm giuộc. Lại có một dĩa mắm tôm, trên mặt đĩa có mấy trái ớt xanh, mấy lát gừng tươi dùng làm nước chấm cá nướng. Cách dọn tiệc của ông Hai khiến cho người ta thấy sự sành điệu, ngon mắt đến chảy nước dãi.

Mà đúng là ngon thật. Một bữa tiệc cá lóc nướng trui với rượu đế, nhậu giữa cánh đồng mênh mông trong buổi chiều tà có ngọn gió chớm đông, khiến ta muốn trải hết lòng ra với bạn nhậu, với đất trời mà chơi hết mình.

Cái không gian ấy làm tôi bùi ngùi nhớ đến quê nghèo của tôi hơn 30 năm trước. Đó là một cái xóm nhỏ vài chục căn nhà lá nằm rải rác đìu hiu. Trước mặt nhà là con sông Bạc Liêu ngoằn ngoèo và nhiều tôm, cá, sau nhà là một cái đìa nở đầy bông súng và một chiếc cầu ao, sau nữa là một cánh đồng mênh mông cỏ năn, cỏ lác. Tháng 8 mưa ngâu, nước lụt, trời ảm đạm. Chiều tối, tôi xách đèn, vác 50 cần câu cắm ra đồng.

Thời đó, người dân nông thôn miệt Hậu Giang nghèo lắm! Nghèo vì chiến tranh, vì thiếu khoa học - kỹ thuật… Nông dân chỉ sống dựa vào thiên nhiên. Như làng tôi, làm lúa chỉ là thu nhập phụ, còn quanh năm suốt tháng thì giăng lưới, cắm câu kiếm sống. Con nít ở làng mới 5-6 tuổi đã cầm đèn, quảy giỏ lẽo đẽo theo anh chị đi cắm câu. Lớn lên một tí là nghiễm nhiên trở thành anh thợ cắm câu thành thục.

Nói thế chứ không phải người nào cũng làm được, dân quê tôi gọi những người cắm câu giỏi là có tay "sát cá". Còn người không có tay "sát cá" thì có học đến cả đời cũng chỉ bắt được chừng 20% cá so với những người giỏi.

Ngoài 50 cần câu cắm bằng tre, tôi còn mang theo cái giỏ đựng cá, một cây đèn khí đá và cái túi dùng để bắt mồi cắm câu. Trời chạng vạng, chúng tôi soi đèn trên những bờ ruộng tìm bắt những con nhái nhỏ bằng ngón tay để làm mồi câu. Cá lóc là loại thích ăn mồi sống. Ta móc lưỡi câu vào đùi nhái, con nhái nhảy tới nhảy lui, cá lóc thấy là đớp ngay. Khoảng 7 giờ tối thì "xuống câu".

Tháng lúa mới cấy, cứ đi trên bờ mẫu mà cắm cần câu hướng ngọn ra kinh, cứ khoảng 20 m là cắm một cần. Thời ấy, cá nhiều lắm, có khi cắm chưa hết 50 cần câu là phải quay trở lại gỡ cá. Cắm câu đầu này là đầu kia cá mắc câu quẫy nước đùng đùng. Thăm một giác câu là phải quảy giỏ về nhà cho cá vào lu, nếu không sẽ quảy không nổi. Với những con cá to như bắp chân thì chuyện cá kéo mất cần câu là thường. Cắm câu trúng nhất là vào đầu tháng 10 âm lịch. Đó là đám mưa cuối cùng của mùa mưa, thường rất to, nước trên đồng đổ về ngập các kinh rạch.

Loài cá vốn rất nhạy cảm với thời tiết, chúng cũng lũ lượt kéo từ đồng đổ xuống các kinh rạch, vì nếu chậm trễ, mùa khô đến, cá sẽ mắc cạn trên đồng. Thế là kinh mương đầy cá. Những đêm nước lụt như thế, nếu cắm câu thì cá ăn liên hồi, đến nỗi gỡ riết rồi mỏi tay, làm biếng.

Nhớ năm đó, tôi và anh Ba tôi dùng mồi trùn đất cắm trên kinh Thào Lạng, hai anh em cứ lội sáng đêm gỡ cá, mà toàn là cá trê vàng, mỗi con to cỡ bắp tay, rọng đầy hai mái đầm. Hồi xưa, nhiều tay cắm câu chuyên nghiệp ác ý, họ kháo cho chúng tôi nghe rằng ở kinh Thào Lạng ma nhát dữ lắm.

Có bữa họ thấy cá ăn quẫy nước xồn xộn, nhưng khi kéo câu là một cái đầu tóc lòa xòa, ướt nhẻm. Bọn trẻ chúng tôi nghe rồi nổi da gà và chẳng bao giờ dám bén mảng đến kinh Thào Lạng cắm câu. Sau này, chúng tôi mới biết, hóa ra kinh Thào Lạng có quá nhiều cá nên họ nghĩ cách hù dọa không cho chúng tôi đến.

Khi gió chướng chuyển mùa, những ngọn gió phóng khoáng bay nhảy trên ngọn lúa là cá "ê mỏ" không ăn câu cắm, thế là chúng tôi chuyển qua thả câu kiều. Câu kiều với dụng cụ là một đoạn sậy dài 5-6 tấc, trên thân nó ta buộc một sợi dây có mắc lưỡi câu. Thả câu kiều thì kỹ thuật khác hơn câu cắm.

Trời nắng, người đi thả câu lội xuống lung thả đại cho cây câu kiều nổi lềnh bềnh giữa đám năn, đám lúa. Nhưng nếu trời gầm gừ, dự báo đêm đó có mưa, phải đem câu lên gò để thả, vì mưa, cá sẽ lên trên cạn ăn. Cho nên, người đi câu giỏi còn phải có kinh nghiệm phán đoán thời tiết. Mồi của câu kiều khác câu cắm là mồi chết. Vì thế, chúng tôi thường cắt khúc cá kèo ra làm mồi.

Đi thăm câu kiều là những buổi sớm mai sương giăng mịt mờ trên đồng. Nhìn dưới gốc lúa thấy cần câu kiều quắn vào bụi lúa, ta dỡ lên đôi khi là một con cá lóc bằng bắp chân, đôi lúc lại con lươn vàng nghệ bằng bắp tay, hay một con rắn ri tượng nặng cả ký…

 Quê tôi vì nằm cạnh bờ sông Bạc Liêu nên có cả nghề câu sông nữa. Bọn trẻ con thì chỉ làm câu thả ven bờ. Đó là dùng một sợi dây nilon dài 50-70 m. Một đầu dây buộc vào một gốc cây trên bờ, đầu còn lại thì mắc vào 5-7 lưỡi câu với mồi bằng những con trùn lá và cột một viên gạch ở chót dây để nắm mà thảy đường câu ra sông. Mùa câu bắt đầu khi gió nam đến và mùa mưa bắt đầu.

Mỗi đứa trẻ ở quê tôi thường có 5-7 đường câu, sáng kéo câu lên thấy dây căng rịt là chắc mẻm có vài con cá ngát, cá lăng, cá dứa… Có bữa kéo lên một con cá dứa nặng 5-6 kg. Cá dứa tươi đem kho với nước dừa thì thịt bò cũng không bằng bởi nó béo ngầy ngậy.

Những người lớn tuổi thì dùng xuồng bơi trên sông để thả câu giềng. Một đường câu giềng dài đến 2-3 trăm mét, thả giữa sông. Nổi tiếng nhất quê tôi là ông Út Xinh. Ông thả câu vào những lúc nước vừa đứng lớn (thời gian giao thời giữa nước ròng và nước lớn), đó cũng là lúc từng bầy cá út không biết từ đâu kéo ra ăn câu. Một giác câu của ông có khi gỡ cả nửa xuồng cá út.

Một vài ông già khác thì chuyên câu cá chẽm, cá ngát, cá dứa… Đây là loại câu bắt toàn cá lớn, nhưng đòi hỏi kỹ thuật điêu luyện. Họ ngồi trên mũi xuồng hướng cần câu về một đống chà hoặc một gốc cây lớn ven sông mà họ "đánh hơi" được là có cá lớn, và ngồi yên lặng chờ đợi cả nửa ngày. Nhìn họ cứ giống một pho tượng tạc một ông lão ngồi trên xuồng câu cá, đội chiếc nón lá tơi.

Nghề này người trẻ tuổi không làm được vì thiếu kiên nhẫn. Mỗi lần cá lớn ăn câu, nó kéo chiếc xuồng và ông lão câu đi xa vài công đất. Đến khi cá đuối sức, người câu mới kéo lên những con cá chẽm nặng cả chục ký. Xóm tôi còn có mấy người lớn chuyên đi câu tôm càng. Mồi câu của họ là dừa khô, cần câu là một đoạn tre được cắm trên cái bập dừa nước kết thành bè đặt dọc hai bên bờ sông.

Ở vùng Cà Mau còn có loại câu giềng. Người đi câu bằng những chiếc xuồng đục đáy, họ ngủ nóp trên xuồng, nấu ăn trên xuồng. Họ đưa xuồng vào tận vùng U Minh để thả câu giềng. Một đường câu của họ dài 5-7 trăm mét.

Khó có thể kể hết hàng trăm cách câu cá của nông dân Nam Bộ. Hàng trăm cách câu cá đó là để áp dụng cho từng vùng (ngọt, mặn, lợ), từng địa hình (sông, rạch, đồng bằng, biển khơi) khác nhau, và để áp dụng cho từng loại cá. Ở đồng bằng sông Cửu Long cũng không sao đếm được có bao nhiêu ngàn người câu cá chuyên nghiệp. Chỉ biết rằng, ngày xưa, mỗi xóm làng ở nông thôn đều có một “đội quân” này. Họ làm việc này với một trình độ điêu luyện theo kiểu ngành nghề truyền thống.

Tôi dám đoan chắc rằng, hơn 300 năm trước, khi tiến vào khai khẩn đất phương Nam, ông bà ta chắc cũng không mang theo nhiều kinh nghiệm trong nghề câu cá. Chính cái vùng đất Nam Bộ cực kỳ giàu sản vật đã níu kéo nhiều người làm nghề câu cá. Và quá trình lao động là quá trình sáng tạo, vì vậy, họ đã "sáng chế" những cách câu cá khác nhau.

Hơn thế nữa, cư dân ở đây đã kế thừa kinh nghiệm của người bản địa nên nghề câu cá ở Nam Bộ mới đồ sộ như thế. Đây cũng là một nét riêng nữa của Nam Bộ mà có lẽ chúng ta chưa có dịp nghiên cứu một cách hệ thống./.

Phan Trung Nghĩa

CÁC TIN ĐÃ ĐƯA
• Hoài niệm về người mẹ anh hùng - (28/07/2010)
• Chân quê rơm rạ - (18/07/2010)
• Vận động đình sản: Nỗi niềm của người trong cuộc - (10/07/2010)
• Nghi án cô Ba Vàm Lẽo và phút xuất thần của Cao Văn Lầu - (07/07/2010)
• Giữ trọn niềm tin - (27/06/2010)
• Nỗ lực đến phút cuối cùng - (14/06/2010)
• Miền quê bừng sáng - (05/06/2010)
• Sắt son một lòng - (01/06/2010)
• Người chị ở quê ra - (23/05/2010)
• Vì vùng biển giàu, mạnh - (18/05/2010)


PHÓNG SỰ ẢNH
Bạn bị ảnh hưởng gì khi giá tiêu dùng tăng cao?

  Xem kết quả...